Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Trời ơi, hãy cứu con? Lời cầu khẩn ở trong lòng bà khiến môi hồng mấp máy. Trên môi bà có một lớp lông tơ mềm mại. Bà xinh tươi rực rỡ, hồng hào nõn nà. Lời nói thầm của bà bị vách kiệu và vải rèm nặng nề hút hết sạch trơn. Bà đặt mảnh vải trùm đầu mềm mại vừa bị xé đặt lên đầu gối. Theo tục lệ xuất giá, trời rất nóng, bà vẫn phải mặc áo bông, quần bông mới. Phía trong kiệu sứt sẹo dơ bẩn. Nó như chiếc quan tài, không biết đã nhốt bao nhiêu cô dâu, biến thành xác chết không hồn. Tấm đoạn vàng che trên vách kiệu đầy những vết dầu ố,- có năm con nhặng xanh, thì có ba con bay lượn ong ong trên đầu bà, còn hai con đậu trên rèm kiệu, chân đen xoa xoa đôi mắt sáng bóng. Bà buồn quá, nhẹ nhàng dùng bàn chân nhọn như cái măng chọc thủng rèm để nhìn trộm ra ngoài. Bà nhìn thấy những cặp giò của phu khiêng kiệu quá ống quần lụa rộng của họ, những bàn chân to bè đi giày bện bằng đay. Bước chân rầm rập của họ hất tung bụi. Bà đoán thân hình họ phải lực lưỡng lăm. Không kìm được, bà di chuyển gót chân nhoài mình về phía trước. Bà nhìn thấy đòn khiêng gỗ hoè màu tím nhẵn bóng và đôi vai rộng của phu khiêng kiệu. Hai bên đường, cao lương liền một giải như một tấm phản, xô đến xô lại. Những bông cao lương màu xanh nhạt, hạt chưa mẩy bông nào cũng giống bông nào. Cao lương mênh mông vô tận, trông như dòng sông đang chảy rào rạt. Đường có những chỗ rất hẹp, lá cao lương bám đầy rệp cọ vào kiệu nghe sột soạt.

Từ thân thể người phu kiệu toả ra mùi mồ hôi chua, bà hít lấy hít để mùi vị của đàn ông, trong lòng bà chắc chắn là nổi lên từng cơn sóng xuân tình. Khi kiệu đi qua hàng phố, phu kiệu đều bước chữ “bát” gọi là “dạo phố”. Sở dĩ làm như vậy một mặt là cố làm vừa lòng chủ, để được thưởng nhiều tiền; mặt khác là để tỏ ra phong độ nghề nghiệp đẹp đẽ. Khi “dạo phố” bước đi không nhịp nhàng không phải là hảo hán, tay phải vịn vào đòn kiệu không phải là hảo hán. Phu kiệu lành nghề, hai tay đều chống nạnh, bước đi nhịp nhàng, nhịp kiệu lắc lư phải khớp với tiếng kèn véo von của các tay thợ thổi kèn, phải làm sao cho mọi người cảm thấy được đằng sau bất cứ một thành công nào cũng phải trải qua khổ luyện công phu. Kiệu đi đến cánh đồng Bình Xuyên, thì các phu kiệu bắt đầu đi chệch choạc, một là để cho nhanh, hai là để trêu cô dâu. Có cô dâu, bị kiệu lắc mạnh quá nôn oẹ bừa bãi làm bẩn cả áo hoa, hài thêu; phu kiệu thấy cô dâu nôn ẹo lấy làm khoái trá. Những người con trai trẻ trung khoẻ mạnh này, thấy mình khiêng kiệu cho người ta hưởng sung sướng là một sự hy sinh, trong lòng nhất định là xót xa, nên họ mới trêu tức cô dâu.

Trong bốn người khiêng kiệu cho bà tôi hôm ấy, có một người đã trở thành ông tôi. Ông là Tư lệnh Từ Chiếm Ngao. Bấy giờ, ông vừa hai mươi tuổi, là người giỏi giang nhất trong đám phu nhà Đơn của quê hương Đông bắc. Các chàng trai cùng lứa như ông tôi đều có tính cách rõ ràng như cao lương của người Đông bắc, vùng Cao Mật, hậu sinh hèn kém chúng tôi không bì được. Quy cách lúc bấy giờ, phu kiệu trên đường trêu ghẹo cô đâu chẳng khác gì bọn thợ nấu rượu được uống rượu nóng, cô dâu là con vua, con trời thì họ cũng cứ trêu như thường.

Lá cao lương quệt vào kiệu kêu sột soạt. Từ trong đám ruộng cao lương xa xa, bỗng vẳng lại tiếng khóc thảm thiết, làm mất đi vẻ đơn điệu dọc đường đi. Tiếng khóc và tiếng của bọn thợ kèn sao mà hoà nhịp thế. Bà liền nghĩ tiếng nhạc thê lương này nhất định là đám thợ kèn cố ý thổi đây… Bà lấy chân hất tấm rèm cửa nhìn thấy tấm lưng trần đẫm mồ hôi của một phu kiệu, bà lại nhìn thấy rõ hơn đôi chân mình đi hài thêu hoa to màu đỏ. Đôi chân vừa nhọn vừa gầy trông rất thảm thương. ánh sáng từ bên ngoài rọi vào chiếu lên đôi chân, trông chúng như hai cánh hoa sen, chúng lại càng giống đôi cá vàng đang lặn ở đáy nước trong vắt: Hai giọt nước mắt nhỏ long lanh như hai hạt cao lương ứa ra từ đôi mi mắt bà, lăn xuống má chảy vào mép… Lòng bà vừa buồn vừa khổ, hình bóng ông chồng được mô tả nho nhã, phong lưu như các nhân vật trong kịch đã bị nước mắt làm mờ đi và mất hẳn. Bà sợ hãi tưởng tượng ra bộ mặt hủi ghê tởm của Biển Lang nhà họ Đơn, lòng tê tái. Bà nghĩ: Lá ngọc cành vàng, mặt hoa da phấn, phong lưu dịu dàng lẽ nào lại để cho một tên hủi chiếm đoạt hưởng thụ. Nếu đúng như vậy thì thà chết còn hơn. Tiếng khóc thê thảm từ trong ruộng cao lương vọng lại nghe rõ từng câu: “Trời xanh ơi, trời xanh – ông trời đẹp đẽ sắc mầu ơi – Người hại anh tôi chết mất rồi – Trời xanh làm hại đời em”. Tôi không thể không nói cho bạn đọc biết rằng, những người đàn bà quê hương Đông bắc vùng Cao Mật chúng tôi khóc cũng hay như hát vậy: Năm dân quốc thứ nhất (tức 1911), chuyện Trình Tiền “Chuyên gia nghiên cứu tiếng khóc” của họ Khổng Phu tử huyện Khúc phụ từng đến đây học đấy. Ngày cưới mà gặp người vợ khóc chồng, bà cảm thấy đó là điều dữ, lòng đang trĩu nặng giờ càng trĩu nặng hơn. Lúc ấy, có một phu kiệu mở miệng nói:

– Em gái ngồi kiệu ơi, nói chuyện với các anh mấy câu nào! Đường xá xa xôi, buồn thấy mồ!

Bà vội vàng cầm lấy mảnh vải đỏ trùm lên đầu ngón chân đang vạch rèm vải cũng nhẹ nhàng rụt lại, trong kiệu lại tối đen như mực.

– Hát một bài cho các anh nghe đi, các anh khiêng em mà!

Thợ thổi kèn như tỉnh mộng, thổi rộn lên ở phía sau kiệu. Kèn lớn thổi:

– Toe toe – toe toe!

– Tò toe – tò toe. Đi phía trước kiệu, các người bắt chước tiếng kèn. Đằng trước đăng sau kiệu, vang lên tiếng cười khả ố.

Người bà đầm đìa mồ hôi. Trước khi bước lên kiệu, cụ bà tôi dặn đi dặn lại bà tôi, dọc đường tuyệt nhiên không được hé miệng chuyện trò với phu kiệu. Bọn họ, thợ kèn cũng như phu kiện đều là những bọn xấu xa, quỷ quái, làm đủ mọi chuyện bậy bạ.

Bọn họ lắc kiệu mạnh, đít bà ngồi không yên, hai tay phải nắm lấy ván ngồi.

– Không mở miệng hả? Lắc! Lắc không ra lời thì phải lắc vãi nước đái nó ra?

Chiếc kiệu bây giờ như con thuyền nhỏ giữa sóng gió, bà gắng hết sức nắm lấy ván ngồi, hai quả trứng ăn buổi sáng đang lộn lên ở trong bụng, đàn nhặng bay vo vo bên tai, cổ họng bà rất khó chịu, mùi tanh của trứng đưa lên miệng, bà mím chặt môi. Không được nôn, không được nôn! Bà tự ra lệnh cho mình, không được nôn. Người ta nói nôn ra kiệu là điều dữ nhất, nôn ra kiệu, thề hết đời sẽ bất hạnh…

Lời nói của bọn phu kiệu mỗi lúc một khả ố. ‘Bọn họ, kẻ thì rủa cụ ông tôi là tiểu nhân, thấy tiền thì sáng mắt ra, kẻ thì nói chẳng khác gì hoa thơm cắm vào bãi cứt trâu kẻ thì nói Đơn Biển Lang là thằng hủi chảy mủ vàng. Họ nói, đứng ở ngoài sân cũng có thể ngửi thấy mùi thối của thịt rữa, trong sân nhà họ Đơn, nhặng xanh bay thành đàn…

– Cô em ơi, chớ để cho thằng Đơn Biển Lang nó mó vào người, nó mà mó vào, người em cũng thối rữa ra đấy!

Kèn lớn, kèn nhỏ thổi lúc to lúc nhỏ. Mùi trứng tanh càng bốc lên dữ dội, bà nghiến răng mím môi, cổ họng như có nắm đấm, đang nện, bà không nhịn được nữa, vừa há mồm, bèn nôn thốc nôn tháo ra rèm kiệu, năm con nhặng xanh hay nhanh như viên đạn lao đến bãi nước vừa nôn.

– Nôn rồi nôn rồi, lắc mạnh vào! – Bọn phu kiệu hò hét. – Lắc nữa, sớm muộn thế nào rồi cũng phải mở miệng thôi.

– Các anh ơi… tha cho em. Bà tôi vừa ọe vừa nói một cách khó nhọc, nói xong, bà khóc oà lên. Bà cảm thấy mình bị oan ức, bà thấy tiền đồ đen tối, suốt đời không thoát được bể khổ. – Ôi bố, ôi mẹ, bố tham tiền, mẹ nhẫn tâm, bố mẹ huỷ diệt đời con.

Bà khóc rống lên, con đường nhỏ trong cao lương rung động. Bọn phu thôi không lắc kiệu nữa, bọn thợ kèn theo đóm ăn tàn cũng thôi không thổi nữa. Chỉ còn lại có tiếng nấc của bà, rồi tiếng sáo bi thảm nức nở theo tiếng khóc còn hay hơn cả tiếng khóc của người con gái. Bà thôi khóc để lắng nghe tiếng sáo, như nghe âm nhạc từ thiên quốc vọng tới. Mặt bà son phấn phôi pha, nước mắt lã chã, trong tiếng nhạc bi ái. Bà nghe thấy tiếng của sự chết ngửi thấy mùi của sự chết, nhìn thấy môi đỏ thẫm như cao lương của thần chết và nụ cười vàng như ngô của thần chết.

Phu kiệu lặng im không nói, bước chân nặng nề. Tiếng nấc nghẹn của người bất hạnh trong kiệu, và tiếng sáo phía sau kiệu làm cho họ lòng dạ rối bời, bồn chồn lo ngại. Đi trên con đường nhỏ trong ruộng cao lương này, không còn giống đoàn đi rước dâu nữa, mà giống như cuộc đưa đám. Người phu kiệu ở phía trước chân bà – tức là Từ Chiếm Ngao, ông tôi sau này ông có một dự cảm không bình thường nó như một ngọn lửa rực cháy chiếu sáng con đường tương lai của ông. Tiếng khóc của bà tôi, đã gợi lên tình thương sớm tiềm ẩn trong lòng ông.

Giữa đường phu kiệu dừng lại nghỉ, kiệu hoa chạm đất. Bà tôi khóc ngất đi, vô tình để lòi một chiếc chân nhỏ ra ngoài kiệu. Phu kiệu nhìn thấy cái chân nhỏ xinh xắn mịn màng, bất chợt hồn siêu vách lạc. Từ Chiếm Ngao đi tới, cúi xuống, khẽ khàng, nhẹ nhàng, nắm lấy bàn chân như cầm con chim nhỏ chưa đủ lông cánh, nhè nhẹ đẩy vào trong kiệu. Ngồi ở trong kiệu, bà xúc động về cử chỉ dịu dàng ấy, bà rất muốn vén màu che, nhìn xem người thanh niên dịu dàng kia là người như thế nào.

Tôi nghĩ, nhân duyên xa ngàn dặm một sợi chỉ se lại là xong, tình duyên của con người là trời đất tác thành nên. Đấy là chân lý không thể nào tự chọn được. Do nắm lấy bàn chân bà tôi, lòng Từ Chiếm Ngao trỗi dậy một linh cảm vĩ đại về một cuộc sống mới sáng tạo. Từ đó, cuộc sống của ông thay đổi hoàn toàn, và cũng hoàn toàn thay đổi cuộc sống của bà tôi.

Tác giả: