Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Phó chỉ huy Nhiệm bèn cởi giây lưng kèm cả khẩu súng brô-ninh quăng vào lòng Tư lệnh Từ. Anh ta chắp hai tay nói:

– Tư lệnh, thế là tiện cả đôi đường. – Đoạn xoạc cùng bước ra ngoài sân.

Tư lệnh Từ cầm súng, nhìn theo lưng phó chỉ huy Nhiệm, nghiến răng nói:

– Cút mẹ mày đi, một thằng học trò ranh ma dám chỉ huy cả lão! Lão đây đã làm thổ phỉ mười năm, chưa một đứa nào dám làm phách như thế bao giờ.

Bà tôi nói:

– Chiếm Ngao, anh không. được để phó chỉ huy Nhiệm bỏ đi. Nghìn quân dễ kiếm, một tướng khó tìm.

– Đàn bà con gái biết cái gì – Tư lệnh Từ ngao ngán nói.

– Tưởng rằng anh là anh hùng hảo hán, té ra chỉ là đồ hèn? – Bà nói.

Tư lệnh Từ lên cò súng, nói:

– Chán sống rồi ha?

Bà tôi bèn xé ngực áo ra, lộ ra bộ ngực trắng tròn, nói:

– Bắn đi!

Bố tôi thét gọi mẹ, lao đến trước ngực bà tôi.

Từ Chiếm Ngao nhìn đầu ngay ngắn của bố tôi, nhìn khuôn mặt xinh xắn của bà tôi, bất giác nhớ lại những chuyện ngày xưa ông thở dài, hạ súng xuống, nói:

– Sửa lại áo sống đi!

Đoạn ông xách roi ngựa, chạy ra ngoài sân, cởi thừng lấy con ngựa vàng, nhỏ, nhưng là giống ngựa hay, không thắng yên, cưỡi thẳng ra bãi tập.

Các đội viên đang ngồi tựa vào tường nghỉ, thấy Tư lệnh đến, vội đứng nghiêm, không ai dám thở mạnh.

Từ Đại Nha bị trói hai tay, cột dưới gốc cây.

Tư lệnh Từ xuống ngựa, đi đến trước mặt Từ Đại Nha nói:

– Chú làm thế thật à?

Từ Đại Nha nói:

– Cháu Chiếm Ngao, hãy cởi trói cho chú. Thôi từ nay chú không làm thế nữa.

Các đội viên đều trố mắt nhìn Tư lệnh Từ. Tư lệnh Từ nói:

– Chú, tôi sẽ bắn chú.

Từ Đại Nha gào lên:

– Đồ bất hiếu, mày lại dám bắn chú mày à? Hãy nhớ lại ân huệ chú đã ban cho mày. Bố mày chết sớm, chú phải đi làm nuôi hai mẹ con mày. Nếu không có chú thì xác mày đã bị chó ăn rồi!

Tư lệnh Từ vung roi, quất vào mặt Từ Đại Nha, chửi:

– Đồ chó ghẻ!

Đoạn quỳ hai đầu gối xuống, nói:

– Chú ơi, Chiếm Ngao không bao giờ quên ơn nuôi dưỡng của chú. Chú chết rồi, cháu sẽ đội mũ gai tang chú, ngày tết, ngày giỗ, cháu sẽ ra mộ cúng chú.

Tư lệnh Từ quay người, nhảy phắt lên lưng ngựa, vút một roi vào mông ngựa, phi về hướng phó chỉ huy Nhiệm, tiếng vó ngựa lộp cộp lộp cộp, chấn động cả thế giới này.

Khi bắn Từ Đại Nha, bố tôi cũng ở đấy. Từ Đại Nha bị anh câm và hai đội viên khác điệu đến đầu phía tây thôn. Nới hành hình ở cạnh cái đầm nước hình bán nguyệt, nước tù đen ngòm thối hoắc, đầy ếch nhái và sâu bọ. Cạnh đầm có một cây nhỏ lá vàng héo, đứng cô độc. Trong đầm cóc nhái nhảy tứ tung, trên đám rác đầy tóc rối là một chiếc giấy phụ nữ.

Hai đội viên giải Từ Đại Nha đến bên đầm buông tay, nhìn anh câm. Anh câm tháo khẩu súng trường khoác trên vai xuống, lên cò bấm, đưa đạn vào ổ đạn. Từ Đại Nha quay người lại, nhìn thẳng vào anh câm, cười cười. Bố tôi phát hiện ra cái cười của ông ta sao mà hiền lành thế, trông giống như mặt trời chiều sắp lặn.

– Anh câm ơi, hãy cởi trói cho tôi, tôi không thể chết mà còn đeo cả dây!

Anh câm nghĩ ngợi một lát, xách súng đi lên, từ trong thắt lưng rút ra một lười lê, soẹt soẹt vài ba cái, cắt đứt giây trói. Từ Đại Nha ruổi cánh tay, quay người lại, hét lớn:

– Bắn đi, hỡi người anh em câm ơi, bắn trúng vào trán đây, đừng để ta phải đau đớn!

Bố nghĩ rằng con người ta lúc trước khi chết sẽ run sợ biết chừng nào, nhưng Từ Đại Nha là hạt giống của quê hương Đông bắc Cao Mật, ông phạm tội lớn, chết cũng chưa hết tội, thế mà trước khi chết ông lại tỏ ra khí khái anh hùng.

Nhìn Từ Đại Nha, bố tôi vô cùng xúc động, bàn chân cứ như nóng ran lên, muốn nhảy lên mà không được.

Từ Đại Nha quay về phía đầm, nhìn dòng nước sâm sấp dưới chân, nhiều sen đại màu lục có một bông hoa trắng toát gầy gò, rồi lại nhìn cánh đồng cao lương sáng loáng trước mặt hồ bỗng bật lên hét thật to:

Cao lương đỏ,
Cao lương đỏ,
Bọn giặc Nhật đến rồi!
Bọn giặc Nhật đến rồi!
Nước mất, nhà tan…

Khẩu súng của anh câm gương lên lại hạ xuống, hạ xuống rồi lại gương lên.

Hai đội viên nói:

– Anh câm ơi, hãy nể mặt Tư lệnh, tha cho anh ta đi!

Anh chống súng xuống, lắng nghe Từ Đại Nha hét lộn xộn.

Từ Đại Nha quay lại, mắt trợn trừng hét lớn:

– Bắn đi! Hai người anh em chẳng lẽ tao phải tự bắn tao à?

Anh câm nâng súng lên, nhắm vuông trán như viên ngói của Từ Đại Nha, bóp cò.

Bố tôi nhìn thấy vầng trán của Từ Đại Nha vỡ ra như viên ngói vụn liền với tiếng súng chói tai. Anh câm cúi đầu, một luồng khôi trắng từ họng súng bốc ra. Chỉ trong nháy mắt thân Từ Đại Nha bất động như một khúc gỗ, lăn nhanh xuống đầm.

Anh câm xách súng đi, hai đội viên đi theo sau.

Bố tôi cùng lũ trẻ, hoảng sợ đi đến bên đầm, từ trên cao ngó xuống nhìn Từ Đại Nha nằm ngửa ở dưới đầm. Mặt ông ta chỉ còn lại cái mồm là lành lặn, mảng sọ đầu bay mất; óc chảy xuống hai tai, một con ngươi bật ra ngoài, như quả nho to đeo lủng lẳng bên tai. Khi thân ông ta đổ xuống, bùn loãng bị đè bắn tứ tung, bông hoa sen trắng gầy gò bị đứt cuống, van còn mấy sợi tơ vương vấn bên tay ông ta. Bố ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng của bông sen.

Sau đó, phó chỉ huy Nhiệm cho mang đến một quan tài gỗ bách, trong lót lụa vàng, ngoài sơn lớp sơn màu vàng thau, đặt Từ Đại Nha vào quan tài. đem chôn ở dưới gốc liễu cạnh đầm một cách khá chu đáo. Hôm đưa tang, phó chỉ huy Nhiệm cũng mặc áo tang đen, trên cánh tay trái còn đeo một băng lụa đỏ. Tư lệnh Từ đội mũ gai để tang, khóc thảm thiết vừa đi ra đầu thôn, ông cầm một cái chậu sành mới quăng mạnh vào đầu hòn gạch.

Hôm ấy, bà đội cho bố tôi một khăn tang trắng – bà cũng đội khăn gai để tang – bố tôi tay cầm gậy liễu còn tươi đi theo sau Tư lệnh Từ và bà. Bố nhìn thấy mảnh chậu vỡ trên đầu hòn gạch, lại nghĩ đến sọ Từ Đại Nha cũng vỡ ra như ngói vụn. Ông lờ mờ cảm thấy hai cảnh vỡ vụn ấy có một mối liên lạc nội tại, tất yếu. Việc kia gặp việc này, rồi sẽ xảy ra một việc thứ ba nữa.

Bố không rơi một giọt lệ nào, ông chỉ lạnh lùng nhìn đám người đến đưa ma. Nhưng người đưa ma đứng vòng tròn vây quanh dưới gốc cây liễu. Mười sáu tràng trai lực lưỡng, cầm tám sợi giây dòng chiếc quan tài nặng kia xuống cái huyệt khá sâu. Tư lệnh Từ bốc một nắm đất, lạnh lùng ném lên chiếc quan tài, gây nên tiếng động làm cho mọi người rùng mình. Mấy người cầm xẻng xúc từng mảng đất đen to hất xuống mộ, chiếc quan tài kêu lên một cách tức tối, rồi dần chìm sâu vào trong đất đen. Đất đen đầy dần, ngang với miệng huyệt, rồi nhô lên khỏi mặt đất và thành một cái ụ to hình dáng giống như chiếc bánh bao. Tư lệnh Từ rút súng ra, ngẩng lên, hướng về bầu trời trên đầu ngọn liễu, bắn liền ba phát. Đạn xuyên qua lùm lá, làm rơi mấy chiếc lá hình lông mày màu vàng, rồi bay vút trong tâng không. Ba chiếc vỏ đạn rơi xuống dưới đầm hôi thối, một chú bé bèn nhảy xuống đầm, dẫm bóp bép xuống bùn xanh, nhặt lấy vỏ đạn. Phó chỉ huy Nhiệm cũng giơ khẩu brô-ninh ra bắn liền ba phát. Đạn bay như tiếng gà kêu, lao vào bầu trời trên ruộng cao lương. Tư lệnh Từ và phó chỉ huy Nhiệm tay cầm súng còn bốc khói, bốn mắt nhìn nhau. Phó chỉ huy Nhiệm, nói: “Đúng là đại anh hùng” đoạn giắt súng vào lưng rồi cùng đi về trong xóm.

Bố tôi phát hiện ra tay cầm súng của Tư lệnh Từ từ từ nâng lên, hướng họng súng về phía lưng của phó chỉ huy Nhiệm. Mọi người hết sức kinh sợ, nhưng không ai dám lên tiếng. Phó chỉ huy Nhiệm tuyệt nhiên không biết, vẫn cao đầu bước đi đều đều ngẩng nhìn về hướng vầng mặt trời như chiếc bánh, rồi đi vào trong xóm. Bố tôi thấy khẩu súng lục trong tay Tư lệnh Từ rung lên. Bố hầu như không nghe thấy tiếng viên đạn nổ, nó nổ bẻ quá và ở xa nữa. Nhưng bố nhìn thấy viên đạn bay liệng trên không trung, rồi lướt qua tóc đen ánh của phó chỉ huy Nhiệm. Phó chỉ huy Nhiệm không quay lại, ông vẫn bước đều đều, nhịp nhàng tiếp tục đi về phía trước. Từ phía phó chỉ huy Nhiệm bố nghe thấy tiếng huýt sáo thổi từ môi người ra, làn điệu tất là quen thuộc: “Cao lương đỏ, cao lương đỏ!” bố tôi nước mắt lưng tròng. Phó chỉ huy Nhiệm càng đi càng xa, bóng ông càng to lớn. Tư lệnh Từ lại bắn phát nữa. Tiếng súng lần này vang động đất trời, bố tôi đều cảm nhận được cả đường đạn bay và tiếng súng cùng một lúc. Đạn bắn vào đầu một cây cao lương, cây cao lương đổ xuống đất. Khi bông cao lương đang từ từ ngã xuống đất, thì một viên đạn nữa bắn nó tan tành. Bố hoảng hốt. Phó chỉ huy Nhiệm cúi xuống bên đường ngắt bông hoa rau đắng màu vàng đưa lên mũi ngửi.

Bố từng nói với tôi rằng, phó chỉ huy Nhiệm đúng là đảng Cộng sản. Ngoài đảng Cộng sản ra, thì khó tìm được một tay hảo hán thuần chủng đến như thế. Chỉ đáng tiếc là người anh hùng đó mệnh đoản. Sau lần ông cao đầu rảo bước, tỏ ra khí khái anh hùng ấy, thì ba tháng sau, trong khi lau chùi khẩu súng brô-ninh, bị cướp cò giết chết. Đạn xuyên từ mắt trái ra tai phải, một nửa mặt dính đầy khói thuốc súng, tai phải rỉ ra năm ba giọt máu đen. Mọi người nghe thấy tiếng súng đều lao đến, thì ông đã ngã vật ra chết.

Tư lệnh Từ nhặt lấy khẩu súng brô-ninh, hồi lâu không nói.

Tác giả: