Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

7.

Bà tôi gánh một gánh bánh tráng, vợ Vương Văn Nghĩa gánh hai thùng canh đậu xanh, chạy vùn vụt về phía cầu lớn trên sông Mặc Thủy. Đáng lẽ họ định đi tắt qua ruộng cao lương, rẽ thẳng về phía đông nam, nhưng sau khi đi vào ruộng cao lương thì họ mới hiểu ra rằng đường gánh nặng khó đi. Bà nói:

– Thím ơi, ta đi đường thẳng thôi, chậm mà lại nhanh đấy.

Bà và vợ Vương Văn Nghĩa như hai con chim to bay lượn trong không trung, chuyển động rất nhanh. Bà mặc một chiếc áo đỏ thẫm, tóc đen sức dầu thơm láng bóng. Vợ Vương Văn Nghĩa người nhỏ nhẹ thông minh, chân tay lanh lẹn. Khí Tư lệnh Từ chiêu binh tập mã, chị đưa chồng đến nhà tôi, nhờ bà tôi nói giúp với Tư lệnh Từ cho chồng chị được tham gia đội du kích. Bà cười nhận lời. Nể tình bà tôi, Tư lệnh Từ đồng ý cho Vương Văn Nghĩa ở lại. Tư lệnh Từ hỏi Vương Văn Nghĩa:

– Anh có sợ chết không?

– Sợ – Vương Văn Nghĩa đáp.

Vợ anh ta nói:

– Thưa ông Tư lệnh, anh ấy nói sợ tức là không sợ. Tàu bay.Nhật đã giết chết ba đứa con nhà em.

Vương Văn Nghĩa sinh ra vốn không phải là để làm lính, anh ta đần độn chậm chạp, không phân biệt đâu là bên phải đâu là bên trái. Khi luyện tập ở thao trường không biết anh ta đã bị phó chỉ huy Nhiệm quát bao nhiêu lần. Vợ anh ta bầy cho anh ta một kế, buộc cọng cao lương vào tay phải, hễ nghe khẩu lệnh là quay phải, thì cứ quay về phía tay có buộc cọng rơm. Vương Văn Nghĩa sau khi làm lính, không có vũ khí, bà tôi đưa khẩu súng bắn chim cho anh ta.

Họ đi trên bờ đê sông Mặc Thủy ngoằn ngoèo, không để ý đến hoa vàng đang nở rộ trên bờ đê và cao lương đỏ như máu mọc san sát ở ngoài đê, họ đang bước vội về phía đông. Vợ Vương Văn Nghĩa chịu khổ đã quen, bà hưởng sướng đã quen. Bà mồ hôi đầm đìa, vợ Vương Văn Nghĩa không có một giọt mồ hôi nào.

Bố tôi chạy trước về đầu cầu. Bố báo cáo với Tư lệnh Từ là bánh tráng lát nữa sẽ có, Tư lệnh Từ vui mừng, phát vào đầu bố một cái: Các đội viên phần lớn nằm trong ruộng cao lương, phơi mũi dưới ánh mặt trời. Bố buồn quá, đi đến ruộng cao lương phía tây đường xem bọn anh câm đang làm gì. Anh câm đang chăm chú mài dao, bố ấn tay vào khẩu brô-ninh đeo ở thắt lưng, đứng trước mặt anh câm, nở nụ cười đắc thắng. Thấy bố tôi anh câm cười nhe răng. Có một đội viên ngủ ngáy khò khò. Bố lại chạy lên mặt đường, mặt đường lốm đốm chỗ vàng, chỗ trắng, bố cảm thấy rất mệt mỏi. Bốn chiếc bừa chặn đường đi, răng nhọn hoắt chĩa lên trời, bố nghĩ, chúng nhất định là cũng đợi đến phát khó chịu. Chiếc cầu đá nằm trên dòng nước như một người bệnh vừa thoát khỏi một cơn ốm nặng. Rồi bố lên trên đê ngồi. Ông ngó đông rồi lại ngó tây, lúc thì nhìn dòng nước chầy, lúc thì nhìn đàn vịt trời. Cảnh sắc bên sông rất đẹp, mỗi ngọn cỏ nước đều đang sống, mỗi một làn sóng nhỏ đều ẩn giấu một điều bí mật. Bố nhìn thấy mấy đống xương trắng không biết là xương la hay xương ngựa đang bị đám cỏ nước bao bọc dày đặc. Bố lại nghĩ đến hai con la đen to của nhà. Mùa xuân, thỏ rừng chạy từng đàn trên khắp cánh đồng, bà cưỡi la, tay cầm súng săn rượt thỏ rừng, bố ngồi trên lưng la ôm lấy lưng bà. Con la chạy làm cho thỏ rừng kích động, bà bắn thỏ rừng chết. Khi trở về nhà, trên cổ cơn la, bao giờ cũng đeo hàng xâu thỏ rừng. Khi ăn thịt thỏ rừng, một hạt sạn đã giắt vào kẽ răng bà, gẩy mãi thế nào cũng không lấy ra được Bố lại nhìn những con kiến đang chạy ở trên đê. Một đàn kiến đen màu nâu đỏ, đang vội vàng chuyển đất bùn. Bố thả một hòn đất to vào giữa lối đi của chúng, đàn kiến không chịu đi vòng mà cố bò qua hòn đất. Bố nhặt hòn đất lên, ném xuống sông, gợi lên một chút Sóng, nhưng không một tiếng động. Mặt trời đã đứng bóng, nước sông bốc lên mùi tanh nóng hôi hổi, chỗ nào cũng sáng loáng, chỗ nào cũng phát ra tiếng râm ran. Bố cảm thấy giữa trời đất đầy những phấn hồng của cao lương, đầy những hương thơm của rượu cao lương. Bố ngả người nằm xuống đê, thì đúng lúc ấy, tim ông giật thót một cái, sau mới hiểu rằng, thì ra tất cả mọi sự chờ đợi đều có thể có kết quả, và khi kết quả xuất hiện thì đó là chuyện bình thường, tự nhiên. Bố phát hiện ra trên con đường quốc lộ phủ kín cao lương, có bốn con quái vật trông như bọ hung màu xanh sẫm, đang lặng lẽ bò tới.

– Ô tô? Bố tôi nói một câu mơ hồ. Không ai để ý lời ông nói.

– Xe của bọn giặc! – Bố tôi nhảy lên, kinh ngạc nhìn về những chiếc Ô tô đang lao vút như sao sa. Phía sau xe là cái đuôi màu vàng đài, trên đầu xe phát ra tia sáng trắng lia quét lối đi.

– Ô tô đến rồi – Lời của bố như một lưỡi dao chém vào tất cả mọi người, phá tan sự im lặng ngây dại đang bao trùm lấy cánh đồng cao lương.

Tư lệnh Từ sung sướng gào lên:

– Thế là các chú mày đến rồi! Hỡi các anh em, chuẩn bị cho tất cả vào, tôi hô bắn là bắn.

Bên tây bờ đường, anh câm phủi đất, nhảy cẫng lên. Mấy chục đội viên đều đứng dậy, cầm lấy súng bò lên ụ đất trên đê.

Đã nghe thấy tiếng ô tô nổ xình xịch. Bố nằm phủ phục bên cạnh Tư lệnh Từ, giơ cao khẩu brô-ninh, cổ tay mỏi nhừ, bàn tay nhớp nháp mồ hôi, kẽ giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ bỗng nổi lên một miếng thịt và nó cứ giần giật rất mạnh. Bố ngạc nhiên thấy mảng đa trên miếng thịt to bằng hạt mơ ấy nhảy nhảy theo tiết tấu nhịp nhàng, dường như trong đó có con chim con đang mổ vỏ để chui ra.

Bố muốn giữ không cho nó nhảy, nhưng vì dùng quá sức nến cả cánh tay đều run lên. Tư lệnh Từ ấn lưng bố xuống, cái miếng thịt kia bỗng dừng lại, bố chuyển khẩu brô-ninh sang tay trái, năm ngón tay phải cứng đờ, ruỗi mãi không thẳng ra được.

Ô tô đã phóng đến gần, hình dáng to dần, hai con mắt to như chân ngựa ở đầu xe phát ra tia sáng trắng, tiếng động cơ phành phạch nghe như tiếng gió trước khi trời đổ mưa, gây nên sự kích thích xa lạ nhưng làm thắt tim người. Bố tôi lần đầu tiên mới thấy ô tô, bố đang đoán xem loại quái vật này ăn cỏ hay ăn thóc gạo, uống nước hay uống máu, chúng chạy nhanh hơn cả hai con la tơ khoẻ mạnh, chân thon của nhà tôi. Bánh xe tròn như mặt trăng quay tít, bụi vàng bay lung tung. Dần dần đã nhìn thấy những vật ở trong xe. Đi đến gần cầu đá, xe giảm tốc độ, khói vàng ở cuối xe bay lên đầu xe, che lấy hai mươi mấy người mặc quần áo màu mơ vàng, đầu đội mũ đen sáng loáng. Sau này bố mới biết cái mũ ấy gọi là cái mũ sắt.

Hồi luyện gang thép năm 1958, nồi nấu cơm nhà chúng tôi đều bị trưng thu hết, anh tôi ăn cắp được chiếc mũ sắt từ trong đống sắt vụn, treo lên bếp lửa, đổ nước vào nấu cơm.

Bố chăm chú nhìn những chiếc mũ sắt biến màu trong khói lửa.

Hai chiếc xe giữa, chất đầy một đống bao trắng cao như núi. Chiếc xe sau cùng, cũng như chiếc xe đầu, chở hai mươi tên lính Nhật đội mũ sắt.

Xe đến gần cầu, bánh xe quay chậm trông cao to, nặng nề, đầu xe vuông vức, theo con mắt của bố, nó như đầu con cào cào cực lớn. Bụi vàng tan dần, đít xe phun ra từng luồng khói xanh.

Bố rụt đầu lại, một dòng nước lạnh chưa từng thấy, chạy từ chân lên bụng nó tụ lại ở bụng, ép vào bọng đái, làm cho ông rất mót, nước đái giỏ giọt ở đầu chim.Ông thót bụng lại để hãm nước đái khỏi tuôn ra. Tư lệnh Từ nghiên sắc mặt, nói:

– Chó con, đừng động đậy!

Bố mót quá, không sao được, phải gọi bố nuôi,xin cho đi đái.

Được Tư lệnh Từ cho phép, bố bò xuống ruộng cao lương, trút một bãi nước đỏ như cao lương. Nước.đái nóng làm đầu chim tê buốt. Đái xong ông thấy dễ chịu quá. Vô tình, ông liếc nhìn sắc mặt các đội viên, trông người nào người nấy đều hằm hằm dữ tợn như các ông tượng dữ trong miếu. Vương Vãn Nghĩa thè đầu lưỡi nhọn, ánh mắt trông như con thạch sùng, nhìn trừng trừng không động đậy.

Đoàn xe như lũ dã thú rất cảnh giác, nín thở tiến lên. Bố ngửi thấy mùi thơm sực nức toát ra từ những chiếc xe. Vừa lúc ấy,bà tôi trong chiếc áo lụa đỏ đẫm mô hôi và vợ Vương Văn Nghĩa thờ hổn hển xuất hiện trên đê sông Mặc Thủy ngoằn ngèo.

Bà tôi gánh một gánh bánh tráng, vợ Vương Văn Nghĩa gánh một gánh canh đậu xanh, khoan khoái nhìn lên cầu to ọp ẹp bắc ngang sông Mặc Thủy. Bà an ủi vợ Vương Văn Nghĩa, nói:

– Thím ơi, thế là đến rồi.

Bà tôi sau khi lấy chồng, vẫn được ăn trắng mặc trơn, gánh bánh nặng đã hằn trên vai bà một vết tím bầm. Vết tím này đã theo bà rời khỏi trần gian lên thiên đường. Vết tím này là dấu hiệu vinh quang anh dũng chống Nhật của bà tôi.

Trong khi mọi người vẫn chăm chú theo dõi đoàn xe đang từ từ lao tới, bố tôi nhờ sức mạnh thần bí nào đó giúp đỡ, là người đầu tiên phát hiện ra bà tôi.Ông ngoẹo đầu về phía tây, nhìn thấy bà như một con bướm to màu hồng tươi đang hân hoan bay đến. Bố gọi thật to:

– Mẹ ơi.

Tiếng gọi của bố như truyền đạt mật mệnh lệnh, từ trên xe của bọn Nhật bắn xuống một làn đạn dầy đặc. Ba khẩu súng máy của bọn chúng bắn trên mui xe. Tiếng súng trầm trầm, buồn buồn như tiếng chó sủa trong đêm mưa âm u. Bố nhìn thấy ngực bà tôi thủng mấy lỗ. Bà kêu lên một tiếng, đầu gục xuống đòn gánh rơi đè lên người bà. Hai sọt bánh, một sọt lăn về phía nam bờ đê, một sọt lăn về phía bắc bờ đê.Bánh trắng như tuyết, hành xanh, trứng gà vàng óng vương vãi ra trên bãi cỏ xanh mượt. Sau khi bà tôi ngã xuống, thì đầu vợ Vương Văn Nghĩa cũng chảy ra một thứ nước vừa vàng vừa đỏ, nước bắn rõ thật xa, bắn cả xuống cao lương dưới chân đê. Bố nhìn thấy người đàn bà nhỏ nhắn ấy bị trúng đạn, lùi một bước, ngã xuống bờ nam đê, rồi lăn xuống lòng sông. Gánh canh đậu xanh của chị, thùng thứ nhất đổ, thùng thứ hai cũng đổ, nước canh lênh láng như máu người anh hùng. Một trong hai chiếc thùng sắt lăn toong toong xuống sông, trôi bồng bềnh trên giòng sông nước đen, trôi qua mặt anh câm, va vào trụ cầu, chui qua gầm cầu rồi trôi qua trước mặt Tư lệnh Từ, bố tôi, Vương Văn Nghĩa và anh em đồng đội.

– Mẹ ơi.

Tác giả: