Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Đàn chim mổ những hạt cao lương để đáp lời gọi không thành tiếng của bà. Chim vừa mổ vừa nuốt hạt cao lương, phần ức của chúng to dần lên, trong khi vội vã ăn, lông chúng sù ra, đuôi xoè hình cánh quạt như cánh hoa lay động trong gió mưa. Dưới hiên nhà tôi, từng nuôi một đàn chim câu. Mùa thu, bà tôi đặt một cái chậu gỗ đầy nước ở trong sân, chim từ động bay về, đậu ngay ngắn trên miệng chậu, soi bóng xuống nước, nhả từ trong diều ra những hạt cao lương. Đàn chim câu đi lắc lư trong sân. Chim câu ơi! Đàn chim câu bị bão táp chiến tranh xua đuổi ra khỏi sân nhà, đang đậu trên ngọn cây cao lương nặng chĩu yên lành, chúng nhìn bà, như ai điếu bà với nỗi đau nặng nề.

Mắt bà lại mờ đi. Đàn chim câu phành phạch vỡ Cánh bay đi, tạo thành tiết tấu một ca khúc quen thuộc. Chúng bay lượn trên bầu trời xanh, cánh chim và không khí chạm vào nhau phát ra tiếng gió nhè nhẹ. Bà cũng bay lên cùng với chim câu, rung đôi cánh mới, nhẹ nhàng bay lượn. Đất đen Ở dưới, cao lương cũng ở dưới. Bà lưu luyến nhìn thôn xóm xơ xác điêu tàn, dòng sông quanh co uốn khúc, con đường dọc ngang chằng chịt; bà nhìn không gian hỗn độn bị súng đạn xé rách và nhìn chúng sinh động đúc đang do dự giữa ngã tư đường của sự sống và cái chết. Bà ngửi mùi rượu cao lương cuối cùng, ngửi mùi vị máu nóng vừa tanh vừa ngọt, trong óc bà bỗng xuất hiện cảnh tượng chưa từng thấy bao giờ: dưới làn mưa đạn bắn xối xả, mấy trăm bà con nông dân quần áo rách rưới, khoa chân múa tay nằm trong cánh đồng cao lương…

Sợi giây cuối cùng liên hệ với nhân thế đã sắp đứt, tất cả ưu tư, đau khổ, vội vàng, chán nản đều rơi xuống cánh đồng cao lương, đều như đá đánh vào ngọn cao lương, khi cao lương đang bám rễ xuống đất đen đơm hoa, kết hạt chua chát, truyền từ đời này đến đời sau. Bà đã hoàn thành sự giải phóng của mình, bà bay theo cánh chim câu. Trong không gian tư duy thu nhỏ lại chỉ bằng nắm tay của bà, chứa đựng đầy những khoái lạc, lặng yên, êm ấm, thư thái, hài hoà. Bà rất mãn nguyện, bà nói một cách chân thành:

– Trời ơi! Trời của tôi!

9.

Súng máy trên nóc xe bắn liên hồi, bánh xe quay tít, bò lên cầu đá to kiên cố. Đạn kìm chặt ông tôi và đội quân của ông tôi có mấy đội viên không cẩn thận thò đầu ra ngoài mặt đê đều bị chết lăn xuống chân đê. ông tức điên người. Tất cả bốn xe đều lên được cầu đạn súng máy bay rất cao. Ông nói:

– Hỡi các anh em, đánh đi?

Ông bắn ba phát, hai tên lính Nhật nằm trên mũi xe, máu đen chảy lênh láng trên đầu xe. Theo tiếng súng của ông, sau đê phía đông và phía tây đường, vang lên mấy chục tiếng súng rời rạc, lại bảy, tám tên lính Nhật đổ. Có hai tên lính Nhật ngã lộn nhào ra ngoài xe, chân tay chới với, lao thẳng xuống dòng nước đen hai bên cầu Khẩu súng cối của anh em nhà họ Phương cũng gầm lên, phun ra một lưỡi lửa to rộng quét lên mặt sông, trông đến là sợ, những viên bi thép, những quả trứng thép lao tất cả vào những chiếc bao trắng ở chiếc xe thứ hai. Sau khi, khói lửa bốc đi rồi những hạt gạo trắng muốt từ vô vàn lỗ thủng chảy ào ra.

Bố tôi từ trong ruộng cao lương, như con rắn trườn tới ven đê, nôn nóng muốn nói ngay với ông tôi, ông tôi vội vàng hãm đạn lại không bắn nữa. Chiếc xe thứ nhất của bọn giặc tăng tốc lao lên đầu cầu, bánh trước đè lên răng bừa chổng ngược. Lốp xe nổ, xì xì ra hết hơi. Chiếc xe rú lên ghê sợ, những chiếc bừa nối liên hoàn đều bị đẩy về phía sau kêu răng rắc. Bố thấy xe giặc như những con rắn lớn nuốt phải con nhím, cổ quằn quại đau đớn. Bọn giặc trên chiếc xe thứ nhất nhảy ùa xuống. Ông nói:

– Chú Lưu, thổi kèn đi!

Lưu Đại Hiệu thổi chiếc kèn lớn, tiếng lanh lảnh dễ sợ.

Ông hét:

– Xung phong!

Ông tôi vung súng nhảy lên, ông không cần ngắm, từng thằng giặc một đều khom người xoay lưng lại trước họng súng của ông. Các đội viên phía tây đều lao đến trước xe, họ vây lấy bọn giặc, bọn giặc ở xe sau đành phải bắn chỉ thiên. Trên xe còn có hai tên lính, bố nhìn thấy anh câm tung mình bay lên xe, hai tên lính xỉa lưỡi lê ra đón, anh câm dùng sống mã tấu quật mạnh gạt được lưỡi lê ra, mã tấu thuận đà lia một cái, đầu một thằng giặc còn nguyên cả mũ sắt, bay trong không trung vẫn còn hú gào, rơi xuống đất, miệng vẫn nói vài câu. Bố thấy mã tấu anh câm dùng thật lẹ. Bố thấy đầu lâu tên giặc vẫn còn kinh ngạc như lúc đầu chưa lìa khỏi cổ, thịt ở má vẫn còn động đậy, mũi còn đang phập phồng, như muốn hắt xì hơi. Anh câm chém nốt đầu tên kia, xác hắn dựa vào thành xe, da trên cổ hắn tụt hẳn xuống một đốt, máu ông ộc phun ra ngoài. Lúc bấy giờ, bọn giặc ở hai xe sau liền hạ thấp súng xuống, vãi ra biết bao nhiêu là đạn, đội viên của ông tôi như những khúc gỗ đổ đè lên xác tên giặc. Anh câm ngồi bét đít xuống mui xe, trên ngực có mấy tia máu phun ra.

Bố và ông nằm phục dưới đất, bò trở lại ruộng cao lương, từ bờ đê dần dần thò đầu ra hai chiếc xe sau cùng rùng rùng rút lui, ông hét:

– Phương Lục, nổ pháo! Giết chết lũ chó khốn nạn đi!

Anh em nhà họ Phương kéo khẩu súng cối đã nhồi thuốc săn lên đê, Phương Lục cúi xuống châm giây dẫn hoả, bỗng bụng trúng đạn, một mảnh ruột xanh, từ từ lòi ra ngoài. Phương Lục kêu lên hai tiếng: “mẹ ơi, ôm bụng lăn vào trong ruộng cao lương. Thấy xe giặc sắp rút ra khỏi cầu, ông tôi vội hô:

– Bắn.

Phương Thất cầm lấy bùi nhùi lửa run lập cập đi vào giây dẫn hoả, nhưng không làm sao cháy được. ông tôi lao đến, giật lấy bùi nhùi lửa, đưa lên miệng thổi, bùi nhùi đỏ lên. ông dí bùi nhùi vào giây dẫn hoả, giây dẫn hoả nổ lẹp bẹp, bốc khói trắng rồi tắt ngấm. Khẩu súng cối im lặng nằm đó, như ngủ say vậy. Bố nghĩ nó không thể nổ được nữa. Xe giặc đã rút khỏi cầu, cái thứ hai và thứ ba cũng đang rút lui. Gạo trên xe chảy rào rào xuống cầu xuống nước, làm mặt nước bắn lên những giọt nước. Mấy xác giặc từ từ trôi về phía đông, máu chảy loang ra, những con lươn đi hàng đàn quẫy mạnh trong nước máu. Khẩu súng cối sau ít phút im lặng, bỗng nổ đùng một tiếng. Thế là sắt thép, súng và thân người tung lên khỏi mặt đê rất cao, một ngọn lửa lớn quạt trúng vào chiếc xe đang có gạo rơi đuôi xe cháy bùng bùng.

Chiếc xe đã ra khỏi cầu bèn dừng lại, bọn giặc trên xe nhảy xuống hỗn loạn, nằm rạp trên mặt đê đối diện, dựng súng lên, bắn mạnh về phía đối phương. Mặt Phương Lục bị trúng đạn, sống mũi bị bắn dập nát, máu anh bắn cả vào mặt bố.

Hai tên giặc ở trên xe bị cháy, đẩy cửa nhảy xuống, luống cuống nhảy cả xuống sông. Chiếc xe chở gạo đi giữa, tiến thoái lường nam, cứ rú lên ở giữa cầu, bánh xe quay tít. Gạo xối xả rơi xuống như mưa.

Súng máy giặc ở trước mặt bỗng câm bặt, chỉ còn mấy khẩu súng trường nổ đì đẹt. Mười mấy tên giặc ôm súng khom lưng, đi nép vào hai bên thành xe bị cháy, lao về phía bắc. Ông hô bắn, nhưng tiếng súng bắn hưởng ứng thưa thớt. Bố quay lại thấy thi thể của các đội viên nằm la liệt trên đê, dưới đê. Đội viên bị thương đang rên rỉ trong ruộng cao lương. ông bắn liền mấy phát, đuổi được bọn giặc xuống cầu. Phía tây đường cũng nổ đì đùng mấy phát súng, giết được mấy tên giặc. Bọn giặc rút lui. Từ bờ phía nam bỗng một viên đạn bay lên, bắn trúng vào cánh tay phải của ông, ông co tay lại, súng lục rơi xuống, mắc trên cỏ. Ông rút vào trong ruộng cao lương, gọi:

– Đậu Quan? Giúp bố với.

Ông xé ống tay áo ra, bảo bố lấy miếng vải trắng ở trong lưng ông ra buộc vào vết thương. Nhân dịp này, bố tôi nói:

– Bố ơi, mẹ con đang mong bố.

Ông nói:

– Con ngoan ơi! Trước tiên hãy giết hết bọn chó đẻ này đã.

Ông rút từ trong thắt lưng ra khẩu súng brô-ninh mà bố đã quẳng đi, đưa cho bố. Lưu Đại Hiệu kéo lê cái chân đầy máu, từ bên đê sông bò tới, anh hỏi:

– Tư lệnh có thổi kèn không?

– Thổi đi – ông nói.

Lưu Đại Hiệu một chân quỳ, một chân ruỗi, nâng kèn hướng lên trời thổi, từ loa kèn bay ra thanh âm màu đỏ sẫm.

– Xung phong, anh em ơi? – ông hô to.

Trong ruộng cao lương phía tây đường có mấy tiếng hô theo. Tay trái ông giơ lên, vừa nhảy lên, thì một viên đạn bay lướt qua má ông. Ông lăn ngay xuống đất bò trở lại ruộng cao lương. Bờ đê phía tây đường có tiếng kêu thất thanh. Bố biết lại một đội viên trúng đạn. Lưu Đại Hiệu hướng kèn lên trời thổi, thanh âm đỏ sẫm va vào bông cao lương làm cho chúng run rẩy ông nắm lấy tay bố, nói:

– Con ơi, đi theo bố sang gặp anh em ở bên tây đường.

Xe trên cầu lăn đi trong khói dày đặc, trong ngọn lửa bập bùng, gạo như tuyết trắng bay rải khắp mặt sông. ông lôi bố, chạy như bay qua đường cái, đạn bắn đuổi theo họ, rơi xuống đường kêu chan chát. Một đội viên mặt đen thủi, da dẻ nứt toác, nhìn thấy ông và bố anh ta miệng há, khóc, nói:

– Tư lệnh ơi, chúng ta hỏng rồi?

Ông ủ rũ ngồi trong ruộng cao lương, hồi lâu không ngẩng đầu lên, bọn giặc bên kia sông cũng không bắn nữa. Trên cầu xe cháy nổ ầm ầm, phía đông con đường vang lên tiếng kèn của Lưu Đại Hiệu.

Tác giả: