Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Bố không thấy sợ nữa, ông men theo bờ đê,lần về phía tây đi một đoạn, từ trong bụi cỏ khô vàng ông lặng lẽ thò đầu ra. Bố nhìn thấy từ trong mui xe thứ hai của giặc chưa bị chảy, có một tên lính Nhật nhảy ra, đi đến thùng xe lôi ra một tên giặc già. Tên già này rất gầy, tay đi đôi găng trắng muốt, hông đeo một thanh kiếm dài, chân đi đôi ủng đa đen cao đến đầu gối. Bọn chúng men theo xe, bám vào mố cầu bò xuống. Bố giơ khẩu súng brô-ninh ra, tay ông run quá, cái mông đít gầy gò của tên giặc già cứ nhảy nhảy trước họng súng của bố. Bố nghiến răng nheo mắt bắn đoàng một phát, viên đạn viu viu chui xuống nước, một con lươn trắng phơi bụng nổi lên. Tên giặc già rơi xuống nước. Bố kêu to:

– Bố ơi, một tên quan to!

Một tiếng súng nổ sau gáy bố. Đầu tên giặc già vỡ toác một vệt máu loang ra trong nước. Tên giặc còn lại bò lổm ngổm, nấp vào sau mố cầu.

Tiếng súng của bọn địch lại vang lên, bố bị ông tôi ấn xuống. Đạn kêu chiu chiu loạn xạ trong ruộng cao lương. Ông tôi nói:

– Tốt lắm, dòng giống của bố!

Bố và ông không biết, tên giặc già mà họ bắn chết chính là tên thiếu tướng Na-ca-cao Nê-cao-ô.

Tiếng kèn của Lưu Đại Hiệu vẫn vang lên không ngớt. Vầng thái dương trên trời bị ánh lửa của xe cháy làm cho xanh xao vàng vọt.

Bố nói:

– Bố, mẹ con đang chờ bố, bảo bố đến đấy.

Ông nói:

– Mẹ con còn sống à?

Bố nói:

– Còn sống.

Bố dắt tay ông, đi sâu vào phía ruộng cao lương. Bà nằm dưới gốc cao lương, trên mặt có in bóng râm của cao lương, trên mặt vẫn giữ nụ cười cao quý giành cho ông tôi. Mắt bà trắng bệch, đôi mắt vẫn còn chưa nhắm.

Bố lần đầu tiên thấy hai dòng nước mắt từ khuôn mặt kiên nghị của ông tôi chảy xuống.

Ông quỳ xuống bên cạnh bà, dùng bàn tay chưa bị thương vuốt mắt cho bà.

* * *

Năm 1976, khi ông tôi chết bố lấy tay trái bị khuyết mất hai ngón tay vuốt mắt trợn tròn cho ông tôi. Năm 1958 khi ông tôi từ dãy núi hoang vùng Hốc-cai-đô (Nhật Bản) trở về, ông nói rất khó khăn, mỗi một lời như hòn đá nặng từ trong miệng ông văng ra. Khi ông từ Nhật Bản trở về, làng tổ chức một lễ rất to, cả chủ tịch huyện cùng đến dự. Bấy giờ tôi hai tuổi. Tôi còn nhớ dưới gốc cây bạch dương, xếp một dẫy tám chiếc bàn bát tiên theo hàng chữ nhất, mối bàn một hũ rượu, hơn chục cái bát trắng. Chủ tịch huyện bê hũ rượu rót một bát đầy, hai tay bưng đến cho ông tôi. Chủ tịch huyện nói:

– Lão anh hùng, xin mời ông một bát rượu, ông đã đem lại vẻ vang cho cả huyện.

Ông tôi vụng về đứng dậy, con ngươi trắng đục đảo đi đảo lại nói:

– Ồ ồ… cái giáo, cái giáo!

Tôi thấy ông đưa bát rượu vào miệng. Cổ ông đầy vết nhăn cứng đỏ, cổ họng chạy lên chạy xuống, rượu vào miệng rất ít, phần lớn là chảy xuống cằm, chảy ròng ròng xuống ngực ông.

Tôi còn nhớ ông dắt tôi, tôi lại dắt con chó mực nhỏ đi lượn trên cánh đồng. ông thích nhất là đi xem cầu lớn trên sông Mặc Thủy, ông đứng ở đầu cầu, tay vịn vào trụ đá, đứng cả nửa buổi sáng hoặc nửa buổi chiều. Tôi thấy mắt ông thường để ý đến vết lỗ chỗ ở hòn đá trên cầu. Khi cao lương mọc cao, ông dẫn tôi đi vào ruộng cao lương, nơi ông thích đi là chỗ cách cầu song Mặc Thủy không xa, tôi đoán, nơi đó là chỗ bà tôi lên trời, trên mảnh đất đen bình thường ấy đã thấm máu tươi của bà tôi. Hồi bấy giờ căn nhà cũ của nhà tôi còn chưa giỡ, một hôm ông vác cuốc đến đào bới dưới gốc cây thu. ông đào được mấy ấu trùng ve. ông cho tôi, tôi vứt cho chó, chó cắn chết ấu trùng, nhưng không ăn.

– Bố, bố cuốc cái gì?

Cô tôi – chuẩn bị đi nhà ăn tập thể nấu cơm – hỏi. Ông tôi ngẩng đầu, nhìn cô bằng ánh mắt xa lạ. Cô đi rồi, ông vẫn tiếp tục cuốc đất. ông đào một cái hốc, chặt đứt mấy chiếc rễ to nhỏ khác nhau, bới ra một phiến đá, từ trong hố gạch tối om, lấy ra một hộp sắt đã rỉ hết. Hộp sắt vừa rơi xuống đất đã vỡ vụn ra. Trong miếng vải rách, lòi ra một vật bằng sắt rỉ đỏ, dài hơn người tôi Tôi hỏi ông đấy là cái gì, ông nói:

– Ờ ờ… cái giáo… cái giáo.

Ông mang ngọn giáo ra phơi dưới nắng, ông ngồi trước ngọn giáo, mở mắt, nhắm mắt, lại mở mắt rồi lại nhắm mắt. Đoạn ông đứng lên, tìm cái búa chẻ củi, đập nát ngọn giáo. Ông đập nát ngọn giáo thành sắt vụn, rồi nhặt lên quăng đi, quăng đầy cả sân.

* * *

– Bố ơi, mẹ con chết rồi ư? – Bố hỏi ông tôi.

Ông gật đầu.

Bố gọi:

– Bố!

Ông tôi xoa đầu bố tôi, từ bên hông rút ra một hanh kiếm, chặt mấy cây cao lương, phủ lên người bà tôi.

Phía nam bờ đê vang lên tiếng súng dữ dội, tiếng hô giết, tiếng lựu đạn nổ. Bố bị ông lôi đi xông lên đầu cầu.

Trong ruộng cao lương phía nam cầu, xuất hiện lơn một trăm người mặc quần áo lính màu tro. Mấy chục tên lính Nhật chạy lên bờ đê, đứa thì bị bắn chết, đứa thì bị đâm chết. Bố nhìn thấy chi đội trưởng Lãnh lưng thắt cái thắt lưng da rộng bản, khẩu súng pạc-hoọc đeo trên thắt lưng. Ông được mấy chiến sĩ cao lớn bảo vệ, vòng qua chiếc xe bị cháy, đi về phía bắc cây cầu.

Ông nhìn thấy chi đội trưởng Lãnh, cười khẩy, cầm súng, đứng không động đậy ở đầu cầu.

Chi đội trưởng Lãnh ngang nhiên đi đến, nói:

– Tư lệnh Từ, đánh khá lắm!

– Đồ chó đẻ! – ông chửi.

– Đàn em đến chậm một bước!

– Đồ chó đẻ!

– Nếu không có chúng tôi đến, thì ông hết đời rồi!

– Đồ chó đẻ!

Họng súng của ông chĩa thẳng vào chi đội trưởng Lãnh. Chi đội trưởng Lãnh, nháy mắt một cái, hai lính cảnh vệ mình hổ lưng báo, dùng động tác nhanh nhẹn giật lấy súng của ông.

Bố tôi giơ khẩu brô-ninh lên, bắn một phát vào mông người lính cảnh vệ đang kèm chặt ông tôi. Người lính thứ hai tung chân đá ngã bố, rồi dùng chân đè lấy cánh tay bố, đoạn cúi xuống nhặt lấy khẩu súng lục.

Ông và bố bị các lính cảnh vệ giữ chặt

– Thằng rỗ Lãnh kia, mày hãy mở mắt chó ra mà nhìn đàn em của tao!

Trên bờ đê hai bên đường, trong ruộng cao lương, xác người và thương binh nằm ngổn ngang. Lưu Đại Hiệu vẫn thổi kèn liên tục, máu đỏ chảy ra từ mép, từ lỗ mũi của anh.

Chi đội trưởng Lãnh ngả mũ, cúi chào cao lương phía đông và phía tây con đường.

– Hãy buông Tư lệnh Từ và công tử ra? – Chi đội trưởng Lãnh nói.

Lính cảnh vệ thả ông và bố ra. Người lính cảnh vệ bị bắn kia, tay ôm đít, máu chảy từ trong kẽ tay ra.

Chi đội trưởng Lãnh đón lấy súng từ tay các lính cảnh vệ, rồi trả cho ông và bố.

Đội quân của chi đội trưởng Lãnh lục tục kéo qua cầu, họ lao về phía xe và xác giặc, họ nhặt lấy súng máy, súng trường, đạn dược, lười lê, vỏ lười lê, thắt lưng da, giày da, ví tiền và dao cạo râu. Có người còn nhảy xuống sông, bắt được một tên giặc còn sống nấp sau mố cầu, và khiêng lên một tên giặc đã chết.

– Thưa chi đội trưởng, đây là một sĩ quan – một chiến sĩ nói.

Chi đội trưởng Lãnh phấn khởi đi đến xem, nói:

– Lột lấy quần áo, giữ lấy tất cả đồ đùng của hắn.

Chi đội trưởng Lãnh nói:

– Tư lệnh Từ, hẹn ngày gặp lại!

Đám lính vây quanh chi đội trưởng Lãnh rồi đi về phía nam cầu.

Ông gầm lên:

– Đứng lại, tên Lãnh kia!

Chi đội trưởng Lãnh quay người lại, nói:

– Tư lệnh Từ, tha cho ông về tội bắn tôi đấy!

– Tao không tha cho mày đâu? – ông nói.

– Vương Hổ, để lại cho Tư lệnh Từ một cỗ súng máy! – Chi đội trưởng Lãnh nói.

Mấy chiến sĩ đem cỗ súng máy đến trước mặt ông.

– Đám xe này, gạo trên xe cũng thuộc thuộc về ông tất.

Toàn đội quân của chi đội trưởng Lãnh đã qua cầu họ lên đê chỉnh đốn hàng ngũ, theo đê sông họ đi miết về phía đông.

Trời đã xế chiều. Đoàn xe đã cháy hết, chỉ còn lại bộ khung đen kịt, mùi lốp xe cháy khét đến ngạt thở. Hai chiếc xe đi đầu và cuối cháy sau cùng đã vít chặt hai đầu cầu. Dòng nước đen như sông đầy máu, cao lương đỏ như cánh đồng máu.

Bố nhặt ở trên đê được một miếng bánh tráng còn nguyên vẹn, đưa cho ông, nói:

– Bố, bố ăn đi. Đây là bánh tráng của mẹ con làm đấy

– Con ăn đi – ông nói.

Bố nhét bánh vào tay ông, nói:

– Con đi nhặt nữa.

Bố lại nhặt được miếng bánh tráng nữa, nhét vào mồm nhai ngấu nghiến.

* * *

Xin chỉ có những dòng văn này gọi là để viếng các anh hồn và oan hồn ở trong ruộng cao lương mênh mông quê hương của tôi. Tôi là con cháu không xứng đáng của các vị, tôi nguyện đem trái tim không trong sạch (Nguyên văn là: trái tim nhúng đầy xì dầu bẩn thỉu.) của tôi, cắt nhỏ ra, xếp thành ba bát, đặt vào trong ruộng cao lương. Cúi xin về thượng hưởng, thượng hưởng.

Dịch giả: Lê Huy Tiêu.
Biên tập và chỉnh sửa: DocSach.Top

Tác giả: