Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Bỗng xẩy ra biến cố. Lúc đầu bố nghe thấy một tiếng kêu đinh tai, tiếp theo là tiếng một vật gì bị vỡ ở phía trước.

Tư lệnh Từ quát lớn:

– Ai bắn đấy? Chú em, ai bắn đấy?

Bố nghe tiếng đạn xuyên vào sương mù, đâm vào cành lá cao lương, một bông cao lương bị gẫy rớt xuống đất Mọi người đều nín thở một lát. Viên đạn kia kêu viu viu không biết rơi xuống nơi nào? Mùi thuốc súng toả vào trong sương. Vương Văn Nghĩa kêu thét lên:

– Tư lệnh ơi, tôi mất đầu rồi! Tư lệnh ơi, tôi mất đầu rồi!

Tư lệnh ngớ ra, đá Vương Văn Nghĩa một cú, nói:

– Đồ chó đẻ! Mất đầu mà còn nói được!

Tư lệnh Từ buông tay bố tôi, đi lên phía trước Vương Văn Nghĩa vẫn đang khóc gào. Bố tôi lao lên, thấy rõ bộ mặt nhăn nhó của Vương Văn Nghĩa. Trên má anh ta có một đường xanh sẫm đang rung động. Bố thò tay sờ vào., chạm phải thứ nước nong nóng, dinh dính. Bố ngửi thấy mùi như mùi bùn ở sông Mặc Thuỷ, nhưng không tanh bằng.

Nó lấn át mùi thơm hắc của bạc hà, lấn át vị ngọt đắng của cao lương, nó gợi lại một ký ức ngày càng gần gũi đối với bố.

Nó như sợi giây sâu chuỗi nối liền nước bùn sông Mặc Thuỷ nối liền đất đen dưới gốc cao lương, nối liền quá khứ không bao giờ mất đi với hiện tại. Không bao giờ giữ được lại với nhau. Có lúc vạn vật đều có thể phả ra mùi tanh của máu người.

– Chú ơi – bố tôi nói – chú ơi, chú bị thương.

– Đậu Quan, cháu là Đậu Quan phải không, rồi cháu xem liệu đầu chú có còn ở trên cổ không?

– Còn, chú ơi, vẫn còn nguyên, chỉ có tai chảy máu thôi.

Vương Văn Nghĩa lấy tay sờ tai, tay đầy máu, tru tréo lên:

– Tư lệnh, tôi bị thương rồi. Tôi bị thương, tôi bị thương rồi!

Tư lệnh Từ từ phía trước quay lại cúi khom người sờ nắm cổ Vương Văn Nghĩa, dằn giọng nói:

– Đừng kêu, kêu nữa tao sẽ bắn mày!

Vương Văn Nghĩa không dám kêu nữa.

– Bị thương ở chỗ nào? – Tư lệnh Từ hỏi.

– Ờ, tai… – Vương Văn Nghĩa vừa khóc vừa nói Tư lệnh Từ đang lấy từ trong lưng ra một mảnh vải trắng, xé toạc làm hai mảnh, đưa cho Vương Văn Nghĩa, nói “Hãy băng tạm, đừng có kêu, cứ đi đi, ra ngoài đường sẽ băng lại”.

Tư lệnh Từ lại gọi: “Đậu Quan!”. Bố thưa, Tư lệnh Từ liền dắt tay bố đi, Vương Văn Nghĩa rên rỉ chạy theo sau.

Phát súng vừa rồi là do một người câm to lớn vác chiếc bừa đi trước mở đường vấp ngã, súng trên lưng bị cướp cò ông câm là người bạn cũ của Tư lệnh Từ, là một anh hùng của cánh đồng cao lương, một chân ông bị thọt ngay từ khi lọt lòng mẹ, đi lại lắc la lắc lư, nhưng rất nhanh. Bố hơi sợ ông ta.

Trước lúc rạng đông, khi đoàn quân của Tư lệnh Từ đặt chân lên đường cái Giao Bình thì mù sương cũng đã tan. Quê hương tháng Tám là mùa lắm sương mù, có lẽ do địa thế trũng gây nên chăng. Sau khi ra đường cái, bố bỗng cảm thấy người nhẹ nhõm lanh lẹn hẳn lên, bàn Chân đi thoăn thoắt, bố buông tay thôi không nắm lấy góc áo Tư lệnh Từ nữa. Vương Văn Nghĩa, vải trắng băng tai, mặt buồn rười rượi. Tư lệnh Từ vụng về băng lại cho anh ta, băng che kín cả nửa mặt. Vương Văn Nghĩa đau quá, mồm méo xệch.

Tư lệnh Từ nói:

– Anh may lắm đấy!

Vương Văn Nghĩa nói:

– Máu tôi chảy hết rồi, tôi không thể đi được nữa?

Tư lệnh Từ nói:

– Đồ quỷ đau bằng con muỗi cắn là cùng chứ gì, quên ba đứa con của anh rồi hả?

Vương Văn Nghĩa cúi đầu, lẩm bẩm nói:

– Không quên, không quên.

Anh ta vác khẩu súng nòng đen, báng đỏ như máu, chiếc hộp sắt dẹt đựng thuốc súng đeo bên hông.

Sương mù còn lại đã lùi về vùng ruộng cao lương. Trên đường cái rải một lớp đá nhỏ, không vết chân trâu, ngựa, càng không có dấu chân người. Hai bên đường là từng hàng cao lương rậm rạp. Đường làng vắng khiến người ta cảm thấy lạnh lẽo, dễ sợ. Bố biết đoàn quân của Tư lệnh Từ, kể cả người điếc, người câm, người què chỉ có bốn mươi người, nhưng họ đóng lại ở trong làng làm náo động gà bay chó nhảy, tựa hồ cả làng đều là lính. Đội quân rải ra trên đường, hơn ba mươi người chụm lại thành một khối, trông như một con rắn chết cứng. Súng thì đủ loại cái ngắn cái dài súng cối, súng bắn chim đủ cả Lão Hán Dương và anh em Phương Lục, Phương Thất vác một khẩu súng cối bắn được cả viên đạn to bằng quả cân. ông câm vác chiếc bừa hình chữ nhật, có hai sáu răng băng sắt ‘dùng để san bằng ruộng đất, ngoài ra có ba đội viên nữa vác mỗi người một chiếc bừa. Bố bấy giờ còn chưa biết đánh du kích là như thế nào, và càng không hiểu đánh phục kích mà lại mang bốn chiếc bừa răng bằng sắt đi để làm gì.

2.

Để dựng bia viết gia phả cho dòng họ của tôi, tôi đã từng về tận quê hương Đông bắc Cao Mật để điều tra, trọng điểm của việc điều tra là trận chiến đấu nổi tiếng giết được viên thiếu tướng của Nhật ở bên sông Mặc Thuỷ mà bố tôi đã từng tham gia. Một cụ bà chín hai tuổi trong làng nói với tôi: “Quê hương Đông bắc, có hàng vạn người ra bầy thế trận bên bờ sông Mặc Thuỷ. Tư lệnh Từ đứng trước trận, giơ tay một cái pháo nổ liền, bọn quỷ Nhật rụng rời tay chân, rơi xuống dòng sông nhan nhản. Đỉnh đầu phụ nữ là Đái Phượng Liên, mặt hoa da phấn, điều đến loại bừa sắt bày liên hoàn, ngăn được bọn quỷ tấn công…” Bà cụ đầu trọc lóc như gáo dừa, mặt nhăn nheo, bàn tay nổi đầy gân trông như giây khoai lang. Cụ là người may mắn trong trận đại thảm sát hồi tháng Tám Trung thu năm 1939. Bấy giờ, vì chân đang có nhọt không chạy được, bị chồng nhét giấu vào trong hầm khoai lang, may mắn thế nào sống sót. Đái Phượng Liên mà trong bài vè bà cụ vừa kể chính là biệt hiệu của bà tôi. Nghe đến đây, tôi sung sướng vô cùng. Điều đó nói lên rằng mưu mẹo đùng những cái bừa chặn đường rút lui của xe giặc là đo bà tôi nghĩ ra. Bà tôi cũng xứng đáng là anh hùng dân tộc đi đầu trong cuộc kháng Nhật?

Nhắc đến bà tôi, bà cụ trở nên nhiều lời. Bà nói lộn xộn, không có đầu có đuôi, như lá cây cuốn theo chiều gió vậy. Cụ nói tới chân của bà tôi, bàn chân bé nhất làng. Nhà tôi nấu rượu phát tài to. Nói đến con đường Giao Bình, thì câu chuyện trở nên có đầu có đuôi: “Khi con đường làm đến làng này… Cao lương đã cao tới lưng… Bọn giặc dồn tất cả những người làm giỏi đi làm công cho người nước ngoài, đều lãn công chơi hoài… Hai con la to đen của nhà các anh đều bị lôi đi… Bọn giặc dựng chiếc cầu đá trên sông Mặc Thuỷ… Lão La Hán làm công cho nhà anh. Lão ta với bà anh có quan hệ bất chính, mọi người đều nói thế… Ôi dà, bà anh hồi trẻ chuyện giăng gió nhiều lắm… Bố anh hay lam hay làm, mười lăm tuổi đã giết người, tạp hôn (Ý nói kết hôn không giá thú.) sinh hảo hán, mười người thì chín người đều bất hảo… La Hán đi phang vào con la… bị bắt và bị lột da… Bọn giặc bức hại dân, chúng ỉa vào nồi, đái vào chậu của dân. Năm ấy, đi múc nước, múc phải một cái gì, một cái đầu lâu, có bím tóc to…”

Ông Lưu La Hán là nhân vật quan trọng trong lịch sử gia đình chúng tôi. Giữa ông và bà tôi có chuyện lòng thòng hay không, bây giờ không có cách nào thẩm tra rõ ràng, thành thật mà nói, lòng tôi không muốn thừa nhận sự thực này.

Hiểu thì hiểu, nhưng lời kể của cụ bà đầu trọc như gáo dừa vẫn làm cho tôi khó chịu. Tôi nghĩ, ông La Hán đã coi bố tôi như cháu ruột mình thì ông như là cụ của tôi. Giả dụ ông có chuyện giăng gió gì với bà nội tôi thì đó chẳng phải là loạn luân ư? Thực ra đó chỉ là chuyện nghĩ tầm bậy, bởi vì bà tôi không phải là con dâu của ông La Hán mà là bà chủ của ông kia. Ông La Hán và gia tộc chúng tôi chỉ có quan hệ về mặt kinh tế chứ không có quan hệ về huyết thống. ông như là một người trung thực điểm suyết cho lịch sử gia đình chúng tôi và quả là không nghi ngờ gì ông đã làm vẻ vang cho lịch sử của gia đình chúng tôi. Bà tôi có yêu ông hay không, ông có lên ngủ trên giường của bà tôi hay không, đều chẳng có liên quan gì đến luân lý – Nếu yêu thì sao? Tôi tin tưởng sâu sắc rằng việc gì bà tôi cũng đều có gan làm tất cả, nếu như bà tôi muốn. Bà không những là anh hùng kháng Nhật, mà cũng là người đi đầu trong việc giải phóng cá tính, là điển hình của người phụ nữ sống tự lập.

Tôi tra sách “Huyện Trí (sách ghi chép những chuyện xảy ra ở một huyện), “Huyện Trí” ghi rằng: Dân quân năm 27(Tức năm 1938) quân Nhật đã bắt phu ở Cao Mật, Bình Độ, huyện Giao tổng cộng bốn mươi vạn lượt người, đắp một con đường lớn Giao Bình. Phá hoại vô số hoa màu, lừa, ngựa ở thôn xóm hai bên đường đều bị cướp sạch. Nông dân Lưu La Hán, đang đêm lẻn vào dùng xẻng đánh gẫy chân một số lừa, ngựa và bị bắt. Hôm sau, quân Nhật giải Lưu La Hán ra trói vào buộc ngựa, lột da thị chúng đe doạ nhân dân. Mặt ông Lưu không hề sợ sệt, chửi luôn mồm, đến chết mới thôi.

3.

Đúng là như vậy khi con đường Giao Bình làm đến chỗ chúng tôi, cao lương khắp cánh đồng chỉ mới cao đến thắt lưng người. Cánh đồng trũng dài bảy mươi dặm, rộng sáu mươi dặm. Ngoài mấy chục thôn trong, hai con sông nằm vắt ngang, mấy chục con đường đến làng khúc khuỷu ra, còn toàn là cao lương mênh mông như sóng xanh. Ngọn núi Bạch Mã, hòn đá lớn như con ngựa mồm trắng, phía bắc đồng bằng, đứng ở đầu làng chúng tôi nhìn rõ mồn một. Nông dân làm cỏ cao lương, ngẩng đầu thấy núi Bạch Mã, cúi đầu thấy đất đen, mồ hôi giỏ dòng dòng xuống đất, trong lòng biết bao đau khổ! Nghe đồn người Nhật Bản sắp làm đường trên cánh đồng, mọi người trong làng đều lo lắng không yên, sốt ruột sốt gan chờ đợi tai hoạ giáng xuống.

Người Nhật nói đến là đến.

Tác giả: