Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Khi giặc Nhật dẫn quân nguỵ đến thôn chúng tôi bắt phu, bắt lừa ngựa thì bố tôi còn đang ngủ, tiếng. ồn’ ào ở bên lò nấu rượu làm bố tôi tỉnh giấc. Bà tôi dắt tay bố tôi, nhón đôi bàn chân nhỏ như chiếc măng nhọn, chạy đến sân nhà nấu rượu. Bấy giờ, trong sân lò nấu rượu nhà tôi, có đến mười mấy chum lớn, đựng rượu trắng hảo hạng, mùi rượu bay khắp thôn. Có hai tên Nhật mặc áo vàng tay lăm lăm cầm súng lắp sẵn lưỡi lê đứng giữa sân. Hai người Trung quốc mặc áo đen cũng có súng, đang định cởi trạc hai con la to đen buộc ở gốc cây thu. Ông La Hán nhiều lần lao đến tên lính ngụy nhỏ bé đang cởi trạc la, nhưng lần nào cũng bị tên lính nguỵ to lớn dùng nòng súng cản lại. Đầu hè, ông La Hán chỉ mặc một chiếc áo mỏng, ngực trần đầy vết hằn nòng súng tím bầm.

Ông Lạ Hán nói:

– Người anh em ơi, tôi nói câu này, nói câu này.

Tên lính ngụy to lớn nói:

– Đồ súc sinh, cút đi?

Ông La Hán nói:

– Đây là của chủ nhà, không lấy được đâu!

Lính ngụy nói:

– Còn la hét tao sẽ giết cái mạng mày?

Tên lính Nhật cầm súng, đứng như tượng đất.

Bà và bố tôi đi vào sân, ông La Hán liền nói:

– Chúng nó định dắt la nhà ta.

Bà nói:

– Thưa ngài, chúng tôi là dân lành.

Tên lính Nhật nhìn bà cười híp mắt.

Tên lính ngụy bé nhỏ cởi được trạc la ra sức kéo, la cưỡng lại, ngẩng đầu không chịu đi. Tên lính ngụy cao to dùng súng thúc vào đít la, con la tức giận tung vó móng sắt sáng loáng đá, đất bùn bắn vào mặt tên lính ngụy.

Tên lính ngụy cao to kéo giây súng, chĩa nòng súng vào ông La Hán quát:

– Lão già khốn kiếp, mày phải tự dắt ra công trường.

Ông La Hán ngồi xổm dưới đất, không thèm trả lời.

Một tên lính Nhật khua súng trước mặt ông La Hán, nó nói:

– Ming-li-oa La-ia-la-li-ming.

Ông La Hán thấy lưỡi lê loang loáng ở trước mặt, ông liền ngồi bệt xuống đất. Tên giặc đưa súng về phía trước, chiếc lưỡi lê sắc nhọn khoét một miếng trắng hếu trên chiếc đầu nhẵn bóng của ông La Hán.

Bà tôi co rúm người lại, nói:

– Chú ơi, chú dắt cho chúng nó đi!

Một tên lính Nhật từ từ sán lại gần bà. Bố thấy tên lính này là một thằng đẹp trai, đôi mắt đen to, sáng long lanh, khi cười, môi nhếch ra, lộ một chiếc răng vàng. Bà lảo đảo lùi dần về phía ông La Hán. Vết thương trên đầu ông La Hán, máu chảy dòng dòng, loang ra cả đầu Hai tên lính Nhật cười sát đến gần. Bà giơ hai bàn tay chụp lên đầu đầy máu của ông ta Hán, rồi bôi ngay lên hai má, đoạn xoã tóc, há mồm, nhảy lên điên loạn. Trông bà ba phần giống người, bảy phần giống quỷ. Bọn lính Nhật kinh ngạc dừng lại. Tên lính ngụy bé nhỏ nói:

– Bẩm quan, người đàn bà này điên thật rồi.

Bọn lính Nhật càu nhàu, bắn một phát súng qua đầu bà. Bà ngồi dưới đất, khóc nấc lên.

Tên lính ngụy cao to dùng súng bắt ông La Hán phải đứng lên. Ông La Hán đón lấy chiếc trạc từ tay tên lính ngụy bé nhỏ. Con la ngẩng đầu, chân run run, theo ông La Hán đi ra khỏi sân. Ngoài đường la liệt là la, ngựa, trâu, dê.

Bà không điên. Bọn giặc Nhật và lính ngụy vừa ra khỏi sân, bà liền mở nắp chum bằng gỗ ra, soi vào trong chum rượu phẳng bóng như một chiếc gương, thấy mặt đầy máu đến ghê người. Bố thấy nước mắt bà chảy dòng dòng trên gò má, cũng biến thành màu đỏ. Bà lấy rượu rửa mặt, làm cho chum rượu đều loang đỏ cả.

Ông La Hán và con la đều bị dẫn đến công trường. Ruộng cao lương, đã bắt đầu có đòng đòng. Con đường bên sông Mặc Thủy đã làm gần xong, xe lớn, xe nhỏ chen nhau đi trên đường, chở toàn đá và cát vàng đến bờ sông phía nam. Trên sông có một cây cầu gỗ nhỏ người Nhật Bản định dựng một cái cầu đá lớn. Hai vạt cao lương hai bên đường đều bị xéo nát, trên mặt đất như trải một tấm thảm xanh. Trong ruộng cao lương phía bắc sông, ở hai bên đường vừa đắp vun lên bằng đất đen, có mấy chục con la, ngựa kéo trục đá lăn tạo nên khoảng đất bằng phẳng trong biển cao lương rộng bát ngát, phá mất tấm thảm xanh nối liền với công trường. La, ngựa đều có người dắt, đi đi lại lại trên ruộng cao lương. Dưới móng sắt, cao lương bị gẫy nát, nằm rạt, lại bị trục đá lăn đi lăn lại đè dí xuống. Các con lăn đều biến thành mầu xanh, nhựa cây cao lương thấm ướt con lăn. Mùi thơm ngát của cao lương xanh… toả khắp công trường.

Ông La Hán bị dồn đến chuyến đá từ bờ nam sang bờ bắc. ông thực tình không muốn trao trạc la cho cụ già mắt toét. Chiếc cầu gỗ con lắc la lắc lư, tựa hồ có thể đổ bất cứ lúc nào. ông La Hán đi qua cầu. Một người Trung Quốc, đang đứng ở bên bờ nam, chừng là đốc công, dùng chiếc roi mây màu đỏ sẫm chọc nhẹ vào đầu ông La Hán nói:

– Đi chuyển đá sang bờ bắc.

Ông La Hán dụi mắt, máu trên đầu chảy xuống làm ướt cả lông mày. ông La Hán vác một hòn đá vừa vừa, từ bờ nam’ đi sang bờ bắc. Cụ già dắt la vẫn còn chưa đi, ông La Hán nói với cụ:

– Ông chăn dắt cẩn thận nhé. Hai con la này là của chủ nhà tôi đấy.

Cụ già cúi đầu không nói không rằng, dắt la nhập vào đội la ngựa đi mở đường. Mông đít con la đen lóng loáng, phản chiếu từng giọt nắng vàng. Trên đầu máu vẫn chảy, ông La Hán ngồi thụp xuống, bốc nắm đất đen, dịt vào vết thương. Cơn đau nặng nề ở trên đầu nhức xuống tận mười đầu ngón chân, ông thấy đầu mình như bửa làm đôi.

Những tên lính Nhật và lính ngụy cần súng đứng thưa thớt cạnh công trường. Tên đốc công cầm roi mây như hồn ma lượn đi lượn lại trên công trường. Đám dân phu thấy ông La Hán đi trên công trường đầu chảy máu dấp dính họ kinh ngạc đến nỗi con ngươi mắt họ cứ đảo lên đảo xuống. ông La Hán vừa vác đá đi được mấy bước, bỗng thấy sau lưng có ngọn gió vút qua rồi thấy dan rát ở lưng. Ông ném hòn đá xuống, nhìn tên đốc công đang cười mình. ông La Hán nói:

– Bẩm quan lớn, có chuyện gì thì cứ nói, sao lại giơ tay đánh người?

Tên đốc công mỉm cười không đáp, lại giơ roi mây, quất vào lưng ông. ông La Hán cảm thấy chiếc roi mây như cắt mình thành hai đoạn, nước mắt nóng cay từ trong hốc mắt trào ra. Máu bốc lên đỉnh đầu, miếng đất đắp trên đầu như rung lên tựa hồ như muốn vỡ toác ra.

Ông La Hán quát:

– Bẩm quan.

Tên đốc công lại quất một roi nữa. Ông La Hán nói:

– Bẩm quan, quan đánh tôi vì tội gì?

Tên đốc công rung rung chiếc roi mây trong tay, cười sằng sặc:

– Cho mày mở mắt ra, đồ chó chết.

Ông La Hán ức đến tận cổ, nước mắt nhoà đi. Từ đống đá ông vác lên một hòn đá to, lảo đảo đi về phía chiếc cầu con. Đầu ông như nổ tung trước mắt thấy toàn hoa trắng. Cạnh đá sắc nhọn đâm vào bụng vào gân cốt ông, ông cũng không biết đau nữa.

Tên đốc công cầm roi đứng nguyên chỗ cũ, ông La Hán khuân đá, sợ sệt đi qua trước mặt hắn. Đốc công quất một roi vào cố ông La Hán. ông chúi về phía trước, ôm lấy hòn đá, ngã khuỵ xuống đất. Hòn đá đập nát tay ông, cằm va vào đá máu lại toé ra. ông bị đánh đau quá cuống lên, khóc oà lên như một đứa trẻ. Lúc này, trong đầu óc rỗng không của ông bỗng sáng lên một ý nghĩ. ông cố gắng lắm mới rút được tay ra khỏi hòn đá, đứng lên, khom lưng xuống, trông như một con mèo già gầy gò đang ra oai.

Một anh trung niên trạc trừng bốn mươi tuổi, tươi cười đi đến trước mặt tên đốc công, đoạn rút từ trong túi ra một bao thuốc lá, chìa ra một điếu mời kề mồm hắn. Hắn há miệng bậm lấy điếu thuốc, đợi người kia châm lửa cho hắn.

Anh trung niên nói:

– Xin ngài đừng bực bội với cái khúc gỗ mục này.

Đốc công nhả khói ra bằng lỗ mũi, không nói năng gì. Ông La Hán nhìn thấy những ngón tay vàng khô của hắn đang cầm roi mây luôn động đậy. Anh trung niên nhét bao thuốc vào túi tên đốc công. Hắn làm như không hay biết, hừ một tiếng, lấy tay ấn nhẹ vào túi, quay người bỏ đi.

– Bác mới đến hả? – Anh trung niên hỏi.

Ông La Hán nói:

– Phải.

Anh ta hỏi:

– Bác không có lễ ra mắt hắn phải không?

Ông La Hán nói:

– Quân cường bạo, đồ chó đẻ, quân cường bạo, bọn chúng bắt tôi đến mà.

Anh trung niên nói:

– Biếu hắn ít tiền, biếu hắn bao thuốc là xuôi ngay. Không đánh người chăm chỉ, không đánh kẻ lười biếng, chỉ đánh ai không mở mắt thôi.

Anh trung niên đoàng hoàng đi về đội ngũ của dân phu.

Suốt cả buổi sáng, ông La Hán như người mất hồn, khuôn đá văng mạng. Mặt trời làm cho vết thương trên đầu khô đi, vừa cứng vừa đau. Vết máu trên tay loang lổ, xương cằm bị thương, nước miếng cứ chảy hoài. Ngọn lửa tím đỏ nhen nhóm ở trong đầu ông lúc mạnh lúc yếu, chảy mãi không thôi.

Đến trưa, từ đoạn đường phía trước vừa đắp xong, xe có thể chạy được, có mộ( chiếc xe hơi màu đất vàng lắc la lắc lư phóng đến. ông hoảng hốt nghe tiếng còi inh tai, đám dân phu mệt nhoài uể oải đi đến chiếc xe. ông ngồi dưới đất, không nghĩ ngợi gì, và cũng không muốn biết xe đến có việc gì. Chỉ thấy ngọn lửa đỏ nóng ran, đang chảy máu, làm cho đôi tai ông vang lên ong ong.

Anh trung niên đi đến, kẻo tay ông đậy nói:

– Bác ơi, đi, đi ăn cơm, đi nếm thử cơm của bọn Đông Dương!

(Người Trung Quốc gọi người Châu Âu ở phía tây là người Tây Dương, còn người Nhật Bản ở phía đông, họ gọi là bọn Đông Dương.)

Ông già đứng dậy đi theo anh trung niên.

Người ta khiêng từ trên xe xuống một thùng cơm trắng, một sọt to đựng bát sứ men hoa xanh. Cạnh thùng cơm có một người Trung Quốc gầy gò, tay cầm một cái môi bằng đồng thau; một người Trung Quốc béo phị khác đứng bên cạnh chiếc sọt, bê một chồng bát. Ai đến hắn phát một cái bát đồng thời chiếc môi đồng, súc cơm vào bát. Mọi người đứng chung quanh xe ăn như hổ đói, không có đũa, nhất loạt dùng tay bốc.

Tác giả: