Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Tên đốc công lại quay lại, tay cầm roi, mặt vẫn mang cái cười lạnh lùng. Ngọn lửa trong đầu ông La Hán bỗng chốc bốc lên, ngọn lửa soi rõ ký ức mà ông đã quên đi, ông nhớ lại cảnh ngộ nửa ngày trời vừa rồi như một cơn ác mộng. Bọn lính Nhật và lính ngụy ở trạm gác cũng xúm lại, vây lấy chiếc thùng có đai sắt trắng ăn cơm một con chó béc-giê tai nhọn mặt dài nằm sau chiếc thùng, thè lưỡi nhìn đám dân phu bên này.

Ông đếm dược hơn một chục tên Nhật và hơn một chục lính ngụy đang ăn cơm quanh thùng, bụng bỗng nẩy ra ý định chạy trốn. Chạy, chỉ cần chui vào đám ruộng cao lương, thì bọn chó Nhật bắt sao nổi?

Lòng bàn chân ông nóng ran, chảy cả mồ hôi. Kể từ khi nẩy ra ý định chạy trốn, ông thấy trong dạ bồn chồn. Bộ mặt có cái cười lạnh lùng của tên đốc công phảng phất ẩn giấu một cái gì, hễ nhìn thấy bộ mặt ấy, trong đầu ông bỗng lập tức thấy rối loạn.

Bọn dân phu đều chưa no. Người Trung Quốc béo phị thu dọn bát sứ. Bọn dân phu liếm môi, mắt nhìn chằm chằm vào những hạt cơm còn dính ở trong thùng, nhưng không ai dám động đậy. Có một con la bên bờ bắc kêu giống lên. ông La Hán nghe, nhận ra tiếng kêu của con la đen nhà mình. Trên mảnh đất vừa khai phá, la ngựa đều buộc vào các trục lăn bằng đá. Thân cao lương nằm ngổn ngang khắp cánh đồng. La ngựa uể oải nhai các công cao lương bị dập nát dưới đất.

Buổi chiều, một chàng trai chừng hơn hai mươi tuổi dõi thấy tên đốc công khống chú ý, liền lao vào ruộng cao lương, một viên đạn bắn theo anh ta. Anh ta nằm xoài xuống bên ruộng, nằm bất động.

Xế chiều, chiếc xe hơi mầu đất vàng lại đến. ông La Hán ăn hết môi cơm. Cái dạ dày quen ăn cao lương, bây giờ thấy cơm gạo mốc cứ đẩy ra. Nhưng ông gắng gượng mà nuốt. ý nghĩ chạy trốn mỗi lúc một mãnh liệt. ông nhớ thôn xóm cánh đồng hơn mười mấy dặm, có cái sâu sắc đầy mùi rượu của ông. Bọn Nhật đến, các anh em nấu rượu đều chạy cả, chiếc nồi nấu rượu nóng hôi hổi đều nguội lạnh. Ông càng nhớ đến bà tôi và bố tôi. Bên đống lá cao lương khô, bà đã mang ấm áp đến cho ông, khiến ông suốt đời không sao quên được.

ăn cơm chiều xong, bọn dân phu đều bị lùa vào một cái lán làm bằng mấy cái cột gỗ. Trên lợp bằng mảnh vải bạt. Các cột gỗ được nối với nhau bởi giây thép to bằng hạt đậu xanh. Cửa lán là mấy thanh sắt uốn cong. Bọn giặc lính ngụy phân ra ở trong hai lều, cách lán chừng mấy chục bước. Con chó béc-giê buộc ở cửa lều bọn giặc Nhật. Trước cửa lán có chôn một con sào cao, trên sào treo cây đèn bão. Bọn Nhật và bọn ngụy thay phiên nhau đi tuần. La và ngựa tập trung trên bãi đất hoang cạnh lán, ở đây có chôn mấy chục cái cột để buộc.

Mùi thối trong lán bốc lên, có người đang ngáy, có người đi đến thùng nước có đai sắt ở góc lán đái, nước đái rơi vào cạnh thùng kêu long tong. ánh đèn bão mờ rọi vào trong lán. Bóng dài của bọn lính tuần tra thấp thoáng trong ánh đèn.

Đêm đã khuya, trong lán lạnh ghê người. ông La Hán không sao ngủ được. ông vẫn muốn chạy trốn. Tiếng chân lính gác vang lên quanh lán. ông nằm không dám cựa quậy, rồi thiếp đi lúc nào không biết. Trong mộng, thấy trên đầu buộc lưỡi dao nhọn, tay cầm thỏi sắt nóng. Tỉnh dậy, mồ hôi đầy người, đái dầm ướt hết cả quần. Từ trong thôn xóm xa vang lại tiếng gà gáy nho nhỏ. La, ngựa dậm chân, mũi thở phì phò qua chỗ rách của tấm bạt, lấp lánh mấy ngôi sao.

Anh trung niên ban ngày giúp đỡ ông La Hán nhẹ nhàng ngồi dậy. Mặc dù trong đêm tối, ông vẫn nhìn thấy đôi mắt của anh như hai quả cầu lửa. Biết người trung niên này lai lịch phi phàm, ông cứ nằm yên để xem anh ta làm gì.

Anh trung niên quỳ bên cửa lán, hai cánh tay giơ lên, động tác rất chậm chạp. ông nhìn lưng anh ta, nhìn cái đầu mang màu sắc thầm bí của anh ta. Anh ta lấy sức, nắm lấy hai cây sắt, như gương cung kéo mạnh sang một bên. Luồng ánh sáng xanh từ trong mắt anh phát ra, chạm vào vật như phát ra tiếng. Hai thanh sắt lặng lẽ tách ra. ánh đèn và ánh sao từ ngoài cửa lán rồi soi rõ chiếc giầy há mồm của ai đó. Bọn lính gác đi tuần quay lại ông nhìn thấy một bóng đen chạy vút ra ngoài lán, tên lính gác kêu “ớ” một tiếng, rồi lặng lẽ đổ xuống dưới cánh tay sắt của anh trung niên. Anh trung niên nhặt lấy súng bộ binh của tên lính Nhật, nhẹ nhàng chuồn thẳng.

Một lúc sau ông già mới rõ chuyện gì đã xẩy ra. Anh trung niên nguyên là một anh hùng võ nghệ cao cường. Người anh hùng đã mở đường cho ông. Chạy thôi? ông cẩn thận chui qua cái lỗ, bò ra. Tên giặc Nhật chết nằm ngửa, một cẳng chân còn đang giật giật.

Ông bò vào ruộng cao lương, đứng thẳng người, đi theo rãnh nước, cố gắng trách chạm vào cây cao lương, không một tiếng động, đi tới bờ đê sông Mặc Thuỷ. Sao mai treo lơ lửng trên bầu trời, màn đêm trước lúc rạng đông vẫn còn tối. ánh sao lấp lánh dưới dòng sông. Ông lo lắng đứng trên bờ đê, người rét run lẩy bẩy, hàm răng lập cập cắm vào nhau, đau từ cằm lên đến má, lên đến tai, và vết thương trên đầu đã làm mủ cũng đau nhức nhối. Không khí tự do mang mùi sữa cao lương trong mát chui vào mũi, vào lá phổi, vào dạ dày ông. Hai ngọn đèn bão như lửa của ma quỷ toả sáng trong sương mù, chiếc lán làm bằng những chiếc cọc gỗ trông như một nấm mồ to. ông La Hán dường như không dám tin rằng, sao lại trốn được một cách dễ dàng đến như thế. Chân ông đưa ông đến cây cầu gỗ nhỏ đã mục, cá dưới nước đang quẫy, nước chảy róc rách, sao đổi ngôi vạch một đường sáng dài trên bầu trời. Dường như chưa phát sinh ra chuyện gì, chưa có’ gì xẩy ra cả. Lẽ ra, ông La Hán có thể trốn về làng ẩn náu, chữa khỏi vết thương và tiếp tục cuộc sống. Nhưng, khi đi trên cầu gỗ, bỗng nghe thấy tiếng kêu bên bờ nam có tiếng la kêu đau khổ. Để cứu con la trở về, ông La Hán đã làm nên một bi kịch tráng lệ.

La và ngựa buộc ở mấy chục cây cọc cách lán không xa, thân mình chúng đầy phân và nước tiểu. Ngựa thở phì phì, la gặm cọc gỗ; ngựa nhai thân cây cao lương, la đang đái, ỉa. ông La Hán vội vàng lao đến bầy la, ngựa. ông ngửi thấy cái mùi thân thiết của hai con la đen nhà mình, ông nhìn thấy bóng dáng quen thuộc của chúng. ông lao tới, định cứu hai người bạn cùng chung hoạn nạn. Nhưng lũ la, chẳng biết gì cứ ngây nguẩy quay đít đi, tung hai vó sau lên. ông La Hán lẩm bẩm nói:

– La đen ơi, la đen ơi, chúng ta cùng chạy trốn đi?

Lũ la tức giận quay bên phải rồi lại quay bên trái, như bảo vệ chỗ đứng của chúng. Chúng không còn nhận được ra chủ cũ nữa.

Ông La Hán không biết rằng, mùi tanh của máu mới, máu cũ ở trên con người ông, vết thương cũ và mới trên người ông đã biến ông thành một con người khác. ông cuống quýt, xoạc chân lao tới, con la đá cho ông một cái vào háng. Ông bay nghiêng người ngồi dưới đất, nửa người đau điếng. Con la vẫn hếch mông đá tiếng, móng sắt trông như vầng trăng khuyết sáng loáng. Xương háng ông già xưng to, đau ê ẩm. ông bò dậy, ngã xuống, ngã xuống lại bò dậy.’ Con gà trống ở trong thôn xa gáy vang lên. Bóng đen lùi dần, sao mai toả sáng, soi rõ mông đít và mắt con la óng ánh.

– Hai con súc sinh này?

Ông La Hán, nổi đoá lên, nghiêng nghiêng ngó ngó đi tìm vũ khí. Trên chỗ đào con kênh, ông tìm được một cái xẻng sắc. ông quên cả người và chó cách đấy một trăm mét, vừa đi vừa chửi. Ông hết cả sợ, tự do tự tại Vầng hồng ở phương đông dần dần hiện ra tỏa ánh ban mai. Trên cánh đồng cao lương trước lúc bình minh, im lặng đến độ không biết nổ tung rá bất cứ lúc nào. ông La Hán ngược hướng ánh ban mai, đi tới phía hai con la đen. ông căm hai con la đen đến tận xương tuỷ. ông La Hán cầm ngang’ cái xẻng sắt, nhằm đúng chân sau con la phang một cái thật mạnh. Con la xiên xiên đảo đảo, rồi lập tức đứng vững lại, và rống lên giận dữ, kinh ngạc. Rồi sau đó, con la bị thương hất mông lên, một vệt máu nóng như hạt mưa hắt ướt cả mặt ông già. ông già lại vung lên không trung phang mốt cái nữa vào chân sau còn lại của con la. Con la đen thở hắt ra một tiếng, hai chân khuỵ xuống, đặt bịch cái mông nặng xuống đất, hai chân trước vẫn còn đứng được, cổ bị giây thừng treo thẳng, mõm hếch lên trời xanh xám, tru réo lên. Chiếc xẻng bị mông la nặng đè chặt xuống, ông già cũng khuỵu xuống theo. ông ráng hết sức rút xẻng ra. ông thấy lưỡi chiếc xẻng như đính chặt vào xương đùi của cơn la. Con la thứ hai kia ngơ ngác nhìn bạn mình ngã khuỵu, kêu rống lên như khóc, như van xin.

Ông già dựng thẳng chiếc xẻng lại dúi sâu vào người con la, con la dùng sức sức đẩy xẻng’ ra, chiếc trạc tựa hổ như đứt, cây cọc kêu răng rắc, đôi mắt to bằng năm tay của nó ánh lên một ánh sáng mầu lam xám xịt

– Mày sợ à? Đồ súc sinh. Uy phong của mày đâu? Đồ súc sinh! Mày là cái đồ vong ân bội nghĩa, ăn cháo đái bát! Mày là đồ chó lang chá, tư thông với nước ngoài.

Ông La Hán giận dữ chửi bới, nhằm cái mặt vuông của con la đen mà giáng. Chẳng dè chiếc xẻng cắm phập vào cọc gỗ, ông lắc lên lắc xuống, lắc phải lắc trái, mãi mới rút ra được. Con la đen vùng vẫy, chân sau, cong thành cánh cung, chiếc đuôi không lông quét xuống đất kêu soàn soạt. ông lại nhằm trúng mặt con la đen, đập mạnh một cái nữa, trúng ngay vào trán rộng con vật, xương đầu rắn chắc và lưỡi xẻng va vào nhau, xẻng bật ra, làm cánh tay ông tê dại. Con la đen miệng ngậm chặt không rên la, đá hất lung tung, cuối cùng không chống đỡ được nữa, ầm một tiếng con vật lăn ra như một bức tường đổ. Chiếc trạc bị đứt đôi, một nửa còn dính ở cọc gỗ, một nửa quấn quanh mặt con vật. ông già đứng lặng, xuôi tay. Cán xẻng nhẵn bóng gác trên đầu la, chỉ lên trời. Đằng kia chó sủa, người huyên náo, cánh đồng cao lương phía đông đã rực lên ánh chiều dương đỏ như máu, ánh dương chiếu thẳng vào cái mồm đen xì hơi há của ông La Hán.

Tác giả: