Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

4.

Đoàn quân đi hàng chữ nhất lên bờ đê. Mặt trời hồng vừa chui từ trong sương mù ra chiếu vào người họ. Bố tôi cũng giống như mọi người, nửa mặt hồng, nửa mặt xanh, cùng họ đi xem từng đám sương mù còn sót lại trên mặt sông Mặc Thủy. Chiếc cầu đá mười bốn nhịp bắc ngang sông Mặc Thuỷ nối hai bờ nam bắc lại với nhau. Chiếc cầu gỗ nhỏ ngày xưa nằm phía tây chiếc cầu đá, mặt cầu đã gẫy mất dăm ba nhịp, mấy cây cột màu nâu còn trơ lại ở dưới sông, đứng ngăn từng đợt sóng trắng xanh. Mặt sông đã tan sương, đỏ đỏ xanh xanh, trông đến sợ. Đứng trên bờ sông, ngước mắt nhìn thấy bông cao lương bên bờ nam bát ngát bằng phẳng như một hòn đá mài khổng lồ. Chúng là những hoa văn bất động. Mỗi bông cao lương là một khuôn mặt chín đỏ, tất cả cao lương hợp thành một tập thể lớn mạnh, hình thành một tư tưởng sâu sắc… Bố tôi lúc ấy còn nhỏ, chưa nghĩ được những câu nói văn hoa dễ nghe như vậy. Đó là tôi nghĩ như thế.

Cao lương và người cùng đợi cái ngày đơm hoa kết trái.

Đường cái thẳng tắp đi suốt về nam, càng xa càng hẹp, cuối cùng bị cao lương nuốt mất. Ở nơi xa nhất kia, cao lương ở đường chân trời xanh màu thép, khi mặt trời mọc, cũng hiện lên cảnh tượng thê lương, bi tráng rung động lòng người.

Bố tôi hơi hiếu kỳ, nhìn các đội viên du kích ngờ nghệch. Họ từ đâu đến? Họ đi về đâu? Vì sao lại đi đánh phục kích? Đánh phục kích xong rồi sẽ đánh cái gì? Trong yên lặng, nước sông bị cầu gẫy cản réo lên nhịp nhàng, âm thanh càng thêm réo rắt. Sương mù bị ánh đương đánh cho tơi bời rơi xuống nước. Nước sông Mặc Thủy từ màu đỏ sẫm biến thành màu đỏ rực. Khắp mặt sông nước chảy loang loáng. Bên hồ nước có một cây thủy hạnh cô độc, lá vàng rũ xuống, những chiếc kén côn trùng khô đét bám vào kẽ lá. Lại đến mùa bắt cua rồi! Bố tôi nghĩ, gió thu thổi, tiết trời lạnh, một đàn chim nhạn bay về phương nam… ông La Hán nói, bắt, Đậu Quan… Bắt! Những chiếc càng xinh xắn của con cua in hoa văn lên lớp bùn mềm.

Bố ngửi thấy mùi tanh thoang thoảng đặc biệt của đàn cua ở dưới sông. Những cây hoa thuốc phiện nhà tôi trồng trước kháng chiến được bón bằng bã cua, hoa rất to, sắc màu rực rỡ, mùi thơm điếc cả mũi.

Tư lệnh Từ nói:

– Tất cả xuống nấp dưới đê, anh câm đặt bừa cản giặc!

Ông câm bỏ mấy cuộn giây thép ở trên vai xuống buộc bốn cái bừa lại với nhau. Anh “be” một tiếng, gọi mấy đội viên lại, đem đặt bó bừa lên đường cái và gần cầu đá.

Tư lệnh Từ nói:

– Hô anh em, nấp cho kín đợi xe bọn Nhật lên cầu đợi người của chi đội Lãnh vây chặn đường rút lui của giặc, nghe lệnh tôi cùng khai hoả, tống bọn súc sinh xuống nước nuôi lươn và cua.

Tư lệnh Từ dùng tay ra hiệu cho anh câm, anh câm gật gật đầu, dẫn một nửa số người và súng, đến ruộng cao lương phía tây mai phục. Vương Văn Nghĩa định theo anh câm đi về phía tây, bị anh ta đẩy trở lại. Tư lệnh Từ nói:

– Anh đừng đi, anh theo tôi. Có sợ không?

Vương Văn Nghĩa gật đầu lia lịa, nói:

– Không sợ… không sợ…

Tư lệnh Từ giao cho anh em nhà họ Phương đặt cỗ súng cối trên bờ sông. Hẳn ông nói với anh Lưu thổi kèn đang mang một cái kèn to:

– Anh Lưu, thấy ngọn lửa anh chẳng phải làm gì cả cứ ráng sức mà thổi kèn cho tôi, bọn giặc sợ kèn lắm, anh có biết không?

Lưu thổi kèn là bạn cũ của Tư lệnh Từ, lúc bấy giờ Tư lệnh Từ là phu khiêng đòn, Lưu là thợ thổi kèn, đánh trống. Anh ta hai tay nắm cái kèn như nắm cây súng vậy.

Tư lệnh Từ nói với mọi người:

– Đã nói thì nói cho hết, đến lúc ấy ai mà tỏ ra sợ sệt thì coi chừng! Chúng ta phải đánh thế nào để cho chi đội Lãnh biết tay. Cái lũ chó chết ấy, chỉ lấy cờ hiệu ra dọa người. Lão đây không sợ đâu. Chúng muốn thay đổi lão? Lão lại muốn thay đổi chúng nó!

Mọi người vây lại trên ruộng cao lương, Phương Lục lấy tẩu ra hút thuốc, lấy đá ra đánh lửa. Lưỡi liềm đen, hòn đá lửa đỏ, trông giống như miếng gan gà đã luộc chín. Lưỡi liềm đập chan chát vào viên đá. Tàn lửa băn ra, tàn lửa rất to. Một tàn lửa to bén vào bùi nhùi làm bằng cây cao lương, Phương tục thổi phì phì, một luồng khói trắng bốc lên, rồi đỏ lừ. Phương Lục châm vào tẩu, rít một hơi. Tư lệnh Từ nhổ một bãi nước bọt.

Ông quyệt mũi, nói:

– Thôi đừng hút nữa, bọn giặc ngửi thấy mùi thuốc nó còn bước lên cầu?

Phương Lục rít vội hai hơi nữa, cất tẩu, gói thuốc lại. Tư lệnh Từ nói:

– Bây giờ ra bờ đê, nằm rải ra, kẻo bọn giặc đến lại trở tay không kịp.

Mọi người hơi hồi hộp, nằm trên đê, tay nắm chặt súng, như gặp địch đến nơi rồi. Bố nằm cạnh Tư lệnh Từ.

Tư lệnh Từ hỏi:

Có sợ không?

Bố nói:

– Không sợ!

Tư lệnh Từ:

– Tốt lắm, đúng là nòi giống của bố nuôi. Con là lính liên lạc của bố, đánh nhau không được xa bố, có lệnh gì bố bảo con, con sẽ truyền lệnh lại cho phía tây.

Bố gật gật đầu. ông thèm thuồng nhìn chằm chằm vào hai khẩu súng lục gài ở lưng Tư lệnh Từ. Một khẩu to, một khẩu nhỏ.

. Khẩu to là khẩu súng côn của Đức, khẩu nhỏ là khẩu brô-ninh của Pháp. Hai khẩu này đều có lai lịch của chúng.

Miệng bố bật ra tiếng:

– Súng.

Tư lệnh Từ nói:

– Con cần súng.

Bố gật gật đầu, nói:

– Súng.

Tư lệnh Từ nói:

– Con biết, dùng không?

– Biết… – Bố nói.

Tư lệnh Từ rút từ trong lưng ra khẩu brô-ninh mân mê trong tay. Súng lục đã cũ, nước thép tôi đã hết. Tư lệnh mở quy lát, một viên đạn đầu tròn vàng óng ánh bắn ra. ông tung viên đạn lên cao, giơ tay bắt lấy, rồi lại nhét vào súng.

– Cho con! – Tư lệnh Từ nói – Con dùng cũng như bố dùng.

Bố vồ ngay lấy. Bố nắm chặt súng, nhớ lại tối hôm kia, Tư lệnh Từ đã dùng khẩu súng này bắn vỡ tan cốc rượu.

Lúc bấy giờ trăng lưỡi liềm vừa mọc, như đè cành cây khô xuống thấp. Bố ôm nậm rượu, cầm chiếc chìa khoá đồng, theo lệnh của bà đến lò rượu lấy rượu. Bố mở cửa lớn, trong sân im ắng, trong chuồng la tối om om, nơi nấu rượu toả ra mùi bã rượu chua chua! Bố mở nắp một chum, nhờ ánh sáng trăng sao bố như thấy khuôn mặt gầy gò của mình trên mặt rượu trong phẳng lặng. Bố lông mày ngắn, môi mỏng, ông thấy mình rất xấu. Bố dìm nậm rượu vào trong chum rượu chảy ồng ộc vào nậm. Khi nhấc nậm rượu ra, giọt rượu trên nậm rơi tong tong vào chum. Bố thay đổi ý định, lại đổ rượu vào chum. Bố nhớ đến cái chum rượu mà bà tôi đã rửa mặt đầy máu vào đấy. Bà ở nhà tiếp rượu Tư lệnh Từ và chi đội trưởng Lãnh, bà và Tư lệnh Từ tửu lượng rất cao, còn chi đội trưởng Lãnh thì đã hơi say. Bố đi đến cái chum rượu ấy nhìn thấy trên nắp chum có đè nắp hòn đá mài. Ông đặt nậm rượu xuống, ráng sức hất hòn đá mài đi. Hòn đá lăn hai vòng trên mặt đất, va vào một cái chum rượu khác, thành chiếc chum này vỡ một miếng tướng, rượu cao lương chảy ra xối xả, nhưng bố cứ mặc kệ. Bố mở nắp chum, ngửi thấy mùi máu tanh của ông La Hán. Bố nhớ lại cái đầu đầy máu của ông La Hán và mặt đầy máu của bà. Mặt ông La Hán và mặt bà chồng lên nhau ở trong chum. Bố ấn nậm rượu vào trong chum, lấy đầy rượu máu, hai tay bê trở về nhà.

Trên bàn bát tiên, đèn khêu to và sáng Tư lệnh Từ và chi đội trưởng Lãnh, bốn mắt nhìn nhau chằm chằm, mồm thở phì phò. Bà đứng giữa hai người, tay trái bà ấn súng lục tự động của chi đội trưởng Lãnh, tay phải ấn khẩu súng lục brô-ninh của Tư lệnh Từ.

Bố nghe thấy bà nói:

– Không chơi với nhau được nữa thì cũng để lại một chút ân tình. Đây không phải là nơi động dao, động súng, có giỏi thì đi mà đánh bọn Nhật ấy.

Tư lệnh Từ giận dữ mắng:

– Chú em, chú định mang cờ hiệu của họ Vương ra, doạ không nổi lão đâu. Lão đây chính là vua trên địa bàn này, đã tung hoành ở đây mười năm rồi, còn sợ gì bọn tay chân của họ Vương nữa?

Chi đội trưởng Lãnh cười lạnh lùng, nói:

– Anh Chiếm Ngao ạ, em đây cũng chờ mong làm tốt cho ông anh, tộc trưởng Vương cũng mong làm tốt ho ông anh. Chỉ cần ông anh cuốn cờ lại, sẽ cho ông anh làm tiểu đoàn trưởng. Súng và lương thực sẽ do Vương tộc tưởng phát, còn hơn là ông làm thổ phỉ.

– Ai là thổ phỉ? Ai không là thổ phỉ? Ai đánh được quân Nhật tức là đại anh hùng Trung Quốc. Lão ấy năm ngoái đã bắt được ba thằng lính gác Nhật Bản, thu được ba khẩu súng. Chi đội anh không phải là thổ phỉ, nhưng giết được mấy tên giặc? Không nhổ được cái lông của chúng nó!

Chi đội trưởng Lãnh ngồi xuống, rút một điếu thưốc châm lửa hút. Nhân dịp này, bố tôi bưng nậm rượu ra Bà đón lấy nậm rượu, bỗng biến sắc mặt, giận dữ nhìn bố tôi một cái. Bà rót rượu vào ba bát, bát nào cũng đầy như có ngọn.

Bà nói:

– Rượu đây có máu của chú La Hán, là những người đàn ông nên uống đi, rồi sau này cùng đi mà đánh xe giặc Nhật. Sau đây, các anh mỗi người một ngả, gà đi đằng gà, chó đi đằng chó, chẳng đụng chạm đến nhau nữa.

Bà bê bát rượu, uống cạn ừng ực. Tư lệnh Từ bê bát rượu, ngửa cổ đổ vào.

Chi đội trưởng Lãnh bê bát rượu uống một nửa, đặt bát xuống, nói:

– Tư lệnh Từ, đàn em tửu lương kém, xin cáo từ!

Bà ấn lên khẩu súng tự động của chi đội trưởng Lãnh, hỏi:

– Đánh hay không đánh?

Tư lệnh Từ tức giận nói:

– Cô đừng nài, ông ta không đánh, lão đây đánh!

Chi đội trưởng Lãnh nói:

– Đánh.

Bà buông súng ra, chi đội trưởng Lãnh giật lấy súng lục tự động, giắt vào lưng.

Tác giả: