Cao lương đỏ – Mạc Ngôn

Bố kể với tôi rằng, sau khi da mặt bị lột hết cái mồm không thành hình cái mồm của ông La Hán vẫn phát ra những tiếng ồ ồ, từng giọt máu đỏ tươi vẫn từ trên đầu giỏ xuống. Tôn Ngũ không còn là con người nữa, hắn dùng dao điệu nghệ thế, lột cả tấm da người mà không sót một chỗ nào. Ông già bị lột hết da biến thành một cục thịt, ruột ở trong bụng chuyển động co vào rãn ra, từng đàn nhặng xanh bay kín trời. Đàn bà con gái đều quỳ xuống đất, khóc động trời dậy đất. Đêm hôm ấy trời đổ mưa to, rửa sạch vết máu trên bãi buộc ngựa, xác và da của ông La Hán biến đâu mất. Tin xác ông La Hán biến mất truyền đi trong xóm. Một truyền mười mười truyền trăm, đời này truyền đời khác, và biến thành một câu chuyện thần thoại đẹp đẽ.

* * *

“Nếu hắn dám trêu tức lão, thì lão lấy sọ hắn làm nồi đựng nước đái cho mà xem”. Mặt trời càng cao càng nhỏ, toả nắng sáng trong làm khô những giọt sương trên ngọn cao lương, từng đàn vịt trời bay đi. Người của chi đội Lãnh vẫn chưa tới. Trên đường cái, thỉnh thoảng có con thỏ rừng chạy qua, ngoài ra không còn mật động vật nào nữa. Về sau có thêm con cáo màu lửa đỏ lấm le lấm lét chạy qua. Tư lệnh Từ chửi chi đội trưởng Lãnh xong, hét:

– Thôi đứng dậy! Tám phần mười là chúng ta mắc lừa thằng Lãnh mặt rỗ chó chết rồi?

Các đội viên năm phục mãi mệt lắm rồi, chỉ mong lời nói này của Tư lệnh Từ. Lệnh vừa truyền ra, tất cả mọi người đều đứng cả dậy. Người thì ngồi trên đê đánh lửa hút thuốc, người thì đứng trên đê ra sức mà dặn đái.

Sau khi trèo lên bờ đê, bố vẫn còn nhớ đến những chuyện năm ngoái. Chiếc đầu bị lột hết da của ông La Hán vẫn không ngừng hiện ra trước mắt bố. Mọi người bỗng nhiên kéo ồ ra, làm đàn vịt trời kích động bay cả ra, rồi lại đậu xuống ven sông xa xa, chúng đi lắc lư, lông biếc lục và lông vàng nâu lấp loáng trong bụi cỏ.

Anh câm xách mã tấu của anh ta và súng bộ binh của lão Dương đi đến trước mặt Tư lệnh Từ. Sắc mặt anh câm khô héo, con người mắt trố ra. Anh giơ tay chỉ mặt trời: mặt trời hửng lên ở phía đông nam; hạ tay chỉ con đường: đường vắng tanh; anh câm chỉ vào bụng, kêu “be be”, rồi vung cánh tay chỉ thẳng vào hướng trong làng. Tư lệnh Từ trầm ngâm một lúc, nhìn về phía những người ở phía tây đường cái, hét:

– Tất cả đến đây!

Các đội viên vượt qua đường, tập hợp trên bờ đê.

Tư lệnh Từ nói:

– Hỡi các anh em, thằng Lãnh mặt rỗ mà cả gan lừa ta, ta sẽ. đập vỡ sọ hắn ra! Trời còn chưa sáng rõ, đợi một lát nữa, đợi đến trưa mà xe địch không đến, thì chúng ta lao về đầm nhà họ Đàm để tính sổ với thằng Lãnh mặt rỗ. Anh em hãy vào ruộng cao lương nghỉ ngơi, tôi sẽ sai Đậu Quan đi giục cơm. Đậu Quan!

Bố nghểnh mặt về hướng Tư lệnh Từ.

Tư lệnh Từ nói:

– Về bảo mẹ con làm ít bánh tráng đến trưa phải mang ra. Bảo mẹ con tự đưa đến!

Bố tôi gật đầu, xốc lại quần, giắt khẩu brô-ninh vào cạp quần, chạy như bay xuống chân đê, hướng về phía bắc con đường chạy một đoạn, rồi luồn vào trong ruộng cao lương, chạy về phía tây bắc. Bố như bơi trong biển cao lương, bắt gặp mấy xương sọ la, ngựa hình chữ nhật. ông lấy chân đá một phát, từ trong sọ lòi ra mấy con chuột đồng đuôi ngắn lông lởm chởm, nhưng không sợ hãi mấy nhìn ông, rồi lại chui tọt vào trong sọ. Bố lại nhớ tới hai con la đen to của nhà mình, nhớ đến sau khi con đường đã đắp xong lâu rồi, mỗi lần nổi gió đông nam, ở trong làng vẫn còn ngửi thấy mùi xác chết đến ghê người. Trong sông Mặc Thuỷ, năm ngoái từng nổi lên mấy chục xác ngựa la trương phềnh rữa nát, chúng dạt vào chỗ nước cạn mọc đầy cỏ ở ven sông. Bụng các con ngựa con la, nắng rọi làm trương phềnh, rồi bỗng nứt toác ra, ruột nổi lềnh phềnh, tiết ra thứ nước màu xanh sẫm, chảy vào sông Mặc Thủy.

5.

Khi bà tôi vừa tròn mười sáu tuổi, cụ tôi bèn gả cho Đơn Biển Lang đứa con một của một tài chủ nồi tiếng tên là Đơn Đình Tú ở quê hương Đông bắc Cao Mật. Nhà họ Đơn chuyên nghề nấu rượu bằng nguyên liệu cao lương giá rẻ, rượu chất rất ngon, nổi tiếng khắp vùng hàng trăm dặm. Địa thế quê hương Đông bắc rất trũng thường bị nước mưa thu tràn ngập, giống cây cao lương thân cao,chống được úng, được trồng ở khắp nơi, năm lào cũng được mùa. Sở dĩ nhà họ Đơn giàu có nhất vùng, là vì giá cao lương quá rẻ. Bà tôi lấy được Đơn Biển Lang là niềm vinh hạnh của cụ ngoại tôi. Bấy giờ, có biết bao nhiêu người mơ ước được kết hôn với nhà họ Đơn, mặc dù có tin đồn Đơn Biền Lang mắc bệnh hủi. Đơn Đình Tú là một lão già nhỏ thó, khô không khốc, đằng sau gáy vắt vẻo một cái đuôi sam nhỏ cũng khô không khốc. Nhà ông ta tiền bạc đầy nương mà ăn mặc lại rách rưới, lại còn buộc một cái giây rơm ngang bụng nữa chứ! Bà tôi làm dâu nhà họ Đơn là do trời định. Hôm ấy bà tôi đang chơi vui vẻ với các thiếu nữ tóc dài, chân nhỏ ở bên cạnh cột đu. Hôm ấy là tiết thanh minh, đào hồng liễu xanh, mưa bụi phất phơ mặt ai nấy đều nở đẹp như hoa vì là con gái được giải phóng. Bà tôi lúc ấy cao một mét sáu mươi nặng sáu mươi ký lô, mình mặc chiếc áo vải ngoại hoa nhỏ, chiếc quần lĩnh màu xanh, cổ chân quấn khăn lụa màu đỏ thẫm. Do mưa bụi, bà tôi đi đôi hài hoa đã được tẩm hơn chục lần bằng dầu cây đồng, bước đi kêu sột soạt. Phía sau gáy là chiếc bíu tóc to đen bóng, cổ đeo một chiếc xuyến bạc khá nặng. Cụ ông tôi là thợ kim hoàn mà. Cụ bà tôi là con gái một địa chủ sa sút, cụ biết rằng chân nhỏ có ý nghĩa to lớn đối với người con gái như thế nào. Bà tôi chưa được sáu tuổi đã bắt đầu bó chân, mỗi ngày bó một chặt. Một mảnh vải dài hơn một trượng, cụ bà tôi dùng để bó chặt lấy chân bà tôi, làm cho các ngón chân không phát triển được, trông rất thảm! Mẹ tôi cũng chân nhỏ, mỗi lần nhìn thấy chân mẹ, lòng tôi đau đớn, những muốn hét lên: “Đả đảo chủ nghĩa phong kiến! Chân người được tự đo muôn năm!”. Bà tôi chịu hết cực khổ, cuối cùng bó thành gót sau vàng ba tấc. Mười sáu tuổi năm ấy, bà tôi đã nở nang đầy đặn, xinh đẹp khi đi hai tay vung vẩy, thân eo lắc la lắc lư như cây dương liễu bị gió thổi. Hôm ấy, Đơn Đình Tú xách một giỏ phân đi qua thôn của cụ ngoại tôi, trong nhiều loại hoa, ông ta thấy’ vừa ý bà tôi. Ba tháng sau, một chiếc kiệu đã đón bà tôi đi.

Bà ngồi mãi trong kiệu hoa buồn bực, mắt hoa đầu váng. Mảnh vải đỏ trùm đầu cho mát mắt bà tôi, vải hoa bốc ra mùi mốc rất khó chịu. Bà giơ tay vén tấm vải đỏ ra – Cụ bà tôi dặn đi dặn lại, cấm bà không được vén tấm vải đỏ trùm đầu – một chiếc kiềng bằng bạc tuột xuống cổ tay, bà nhìn thấy hình con rắn chạm ở trên chiếc kiềng, lòng dạ rối như tơ vò. Gió ấm thổi vào những cây cao lương xanh biếc mọc ở hai bên đường đất hẹp. Tiếng chim gáy kêu cúc cu từ ruộng cao lương vọng lại Phấn hoa cao lương màu bạc toả ra mùi thơm thanh khiết. Trên tấm rèm kiệu che trước mặt bà thêu những con rồng, con phượng, mảnh vải đỏ trên rèm do cho thuê nhiều năm nên đã phai màu xỉn lại, ở giữa loang lổ một vết dầu to tướng. Cuối hạ đầu thu, ánh nắng bên ngoài kiệu chói chang, bọn phu khuân kiệu bước đi nhịp nhàng khiến cho chiếc kiệu cũng lắc lư theo, dây da bò chưa thuộc buộc kiệu kêu cót két, rèm che kiệu nhè nhẹ rung rinh, từng chùm tia sáng và từng làn gió mát lọt vào trong kiệu. Người bà đầy mồ hôi, tim đập như gõ trống, lắng nghe tiếng bước chân nhịp nhàng và tiếng thở nặng nề của phu khuôn kiệu, ở trong ‘đầu bà hiện ra một cảm giác lúc thì’ lạnh lùng trơn nhẵn như đá sỏi, lúc thì nôn nóng cồn cào như sát ớt.

Sau khi bà được Đơn Đình Tú để ý không biết bao nhiêu người đã đến chúc mừng hai cụ ngoại tôi. Mặc dù bà cũng nghĩ đến những ngày sống sung sướng phong lưu nhưng mong hơn vẫn là lấy được người chồng có học, biết điều, mặt mày thanh tú. Khi ngồi trong khuê phòng thêu áo cưới, bà tôi đã thêu một bức tranh đẹp về người ông tương lai của tôi. Bà từng mong chóng đến ngày cưới, nhưng qua lời các bạn gái nói lấp lửng thì nghe đâu cậu công tử họ Đơn bị bệnh hủi, lòng bà giá lạnh. Bà nói nỗi lo ấy với bố mẹ. Cụ ông tôi lấp liếm không trả lời, cụ bà tôi mắng cho lũ bạn gái của bà tôi một trận đại ý nói là cáo không lấy được nho ăn liền chê nho chua. Về sau cụ ông tôi lại nói công tử họ Đơn học rộng biết nhiều, trắng trẻo đẹp trai. Bà tôi hoang mang không biết đâu là thật là giả, nhưng sau nghĩ lại trong thiên hạ không có bố mẹ nào lại nhẫn tâm với con. Có lẽ bọn ‘bạn nói liều. Bà lại bắt đầu mong sớm đến ngày cưới Bà đang ở độ tuổi thanh xuân rạo rực nên cảm thấy buồn da diết và cô đơn lạnh lẽo. Bà ước ao được nằm trong lòng người đàn ông ấm áp để cho tiêu tan nỗi buồn và cô quạnh. Ngày cưới cuối cùng đã đến. Bà bị đưa lên chiếc kiệu lớn bốn người khiêng, kèn lớn kèn nhỏ thổi nghe thê thảm ở trước và sau kiệu, bà không cầm được nước mắt, để nó tự chảy xuống má. Khi kiệu được khiêng đi, lửng lơ như cưỡi mây cưỡi gió, thợ kèn lười biếng vừa ra khỏi làng không xa đã ngừng thổi, bước chân của phu khiêng kiệu bỗng trở nên nhanh hơn. Mùi thơm của cao lương thấm sâu vào lòng người. Chim lạ thú quý trong cánh đồng cao lương hót véo von trầm bổng khi từng tia nắng rọi vào trong kiệu, thì hình bóng người chồng của bà rõ dần lên. Lòng bà như bị kim châm, đau đớn vô cùng.

Tác giả: