Cái ghế trống – Jeffery Deaver

“Điều đó sẽ không xảy ra. Không có lý do gì để cô ném tất cả tro vào mặt tôi.” Cullbeau quay người và khuềnh khoàng bước đi.

“Tro?”

“Nghĩa là giận dữ ấy, cô biết chứ hả.”

Sachs nói với Rhyme về vụ đụng độ.

Anh gạt đi. “Chúng ta đâu có thời gian mà lo lắng về những người địa phương, Sachs. Chúng ta phải lần theo dấu vết. Và phải lần theo một cách nhanh chóng. Hãy trở về đây, với các thứ em đã tìm thấy.”

Trong lúc họ ngồi trên thuyền quay lại kênh, Sachs hỏi. “Anh ta sẽ gây rắc rối chừng nào?”

“Culbeau ấy à?” Lucy đáp lời. “Anh ta là kẻ rất lười biếng. Hút ma túy và uống quá nhiều rượu, nhưng anh ta chưa bao giờ để xảy ra chuyện gì tệ hại hơn chuyện quại vỡ hàm ai đó ở chốn công cộng. Chúng tôi nghĩ anh ta chỉ loanh quanh tìm kiếm chỗ nào đấy thôi và thậm chí với một nghìn đô la tiền thưởng, tôi không thể tưởng tượng anh ta lại đạt được kết quả gì.”

“Anh ta và hai người bạn thân làm gì?”

Jesse hỏi: “Ồ, chị cũng trông thấy họ rồi à? Chà, Sean – anh chàng gầy giơ xương ấy – và Rich, họ không có cái mà chị gọi là nghề nghiệp thực thụ đâu. Bới rác và làm thuê theo ngày. Harris Tomel từng học đại học – dù sao cũng vài ba năm. Anh ta luôn cố gắng mua một cơ sở kinh doanh hay hùn hạp gì đó. Tôi chưa bao giờ nghe nói có việc nào đem lại nhiều tiền. Nhưng bộ ba này thuộc loại rủng rỉnh và như thế tức là họ dính dáng đến rượu lậu.”

“Rượu lậu? Các anh không bắt họ sao?”

Jesse nói, sau một chút im lặng: “Đôi khi, ở đây, người ta không ngại sờ tới những thành phần phức tạp. Đôi khi người ta lại ngại.”

Đây là một triết lý về thực thi pháp luật mà, Sachs biết, hầu như chẳng giới hạn riêng cho miền Nam.

Họ cập lại bờ phía nam con sông, bên cạnh hiện trường vụ án, và Sachs trèo được khỏi thuyền trước khi Jesse kịp chìa bàn tay ra – dù sao anh ta cũng vẫn chìa ra.

Một hình dáng khổng lồ, tối thẫm bỗng dưng xuất hiện trong tầm nhìn. Chiếc xà lan đen sì, dài bốn mươi feet, từ từ trôi xuôi dòng kênh, vượt qua họ và đi ra sông. Sachs đọc được hàng chữ trên thành: CÔNG TY DAVETT.

Sachs hỏi: “Công ty gì thế?”

Lucy trả lời: “Một công ty không thuộc thị trấn này. Họ vận chuyển hàng hóa ra hệ thống đường thủy ven biển xuyên kênh đào đầm lầy Sầu Thảm và vào Norfolk. Nhựa đường, giấy dầu, đại loại vậy.”

Rhyme nghe được điều này qua bộ đàm và nói: “Hãy hỏi xem có chuyến hàng hóa nào xung quanh thời điểm xảy ra vụ giết người không. Lấy tên của đội chạy xà lan.”

Sachs nói lại với Lucy, nhưng cô bảo: “Tôi làm việc đó rồi. Một trong những bước đầu tiên mà Jim và tôi tiến hành.” Cô trả lời giọng nhát gừng. “Không có chuyến hàng nào. Nếu cô quan tâm, xin bổ sung thêm rằng chúng tôi cũng đã gặp tất cả những người ở thị trấn bình thường vẫn đi lại dọc đường Kênh Đào và đường 112. Chẳng đạt được kết quả gì.”

“Một cách hay đấy”, Sachs bình luận.

“Chỉ là quy trình chuẩn thôi.” Lucy lãnh đạm nói, rồi sải bước về xe của mình giống như một nữ sinh vụng về ở trường trung học rốt cuộc đã hất được cả xô nước lạnh vào đội trưởng hoạt náo viên.

CHƯƠNG BẢY

Tôi sẽ không cho anh ấy làm bất cứ việc gì cho đến khi các vị chưa đưa được một máy điều hòa nhiệt độ đến đây.”

“Thom, chúng ta không có thời gian cho chuyện này đâu”, Rhyme quát. Rồi anh chỉ chỗ để người công nhân tháo dỡ các thiết bị vừa được chở từ cơ quan cảnh sát bang tới.

Bell nói: “Steve đã ra ngoài lùng một cái. Không dễ dàng như tôi tưởng.”

“Tôi chẳng cần đâu.”

Thom kiên nhẫn giải thích: “Tôi lo sợ tình trạng tăng phản xạ tự phát.”

“Thom, tôi không nhớ mình đã nghe nói rằng nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng xấu tới huyết áp”, Rhyme đáp lời. “Cậu đã đọc ở đâu à? Tôi thì chưa đọc ở đâu cả. Có thể cậu sẽ chỉ được cho tôi là cậu đã đọc nó ở đâu.”

“Tôi không cần sự mỉa mai của anh, Lincoln.”

“Ồ, tôi đang mỉa mai đấy ư?”

Anh chàng phụ tá kiên nhẫn nói với Bell: “Cái nóng khiến cho mô phình ra. Mô phình ra dẫn đến tăng huyết áp, đồng thời tăng cảm giác cáu bẳn. Và cái đó có thể dẫn đến tăng phản xạ tự phát, tình trạng có thể giết chết anh ấy. Chúng tôi cần một máy điều hòa nhiệt độ. Đơn giản thế thôi.”

Thom là người phụ tá điều dưỡng duy nhất trụ lại được sau vài tháng đầu tiên phục vụ nhà hình sự học. Những người khác hoặc là tự bỏ việc hoặc là bị đuổi thẳng.

“Cắm cái kia vào”, Rhyme ra lệnh cho một cảnh sát đang đẩy chiếc máy tách hợp chất gắn bánh xe vào góc phòng.

“Không.” Thom bắt chéo hai cánh tay và đứng trước đoạn dây điện được kéo ra. Viên cảnh sát trông thấy vẻ mặt anh chàng phụ tá và băn khoăn dừng lại, không chuẩn bị tinh thần đối đầu với người thanh niên kiên định này. “Khi nào có máy điều hòa… khi đó chúng ta sẽ cắm cái kia vào.”

“Lạy Chúa.” Rhyme nhăn nhó. Một trong những điều đáng chán nhất của tình trạng liệt tứ chi là không thể xả nỗi tức giận. Sau khi bị tai nạn, Rhyme nhanh chóng nhận ra rằng bằng hành động đơn giản như đi đi lại lại hay nắm chặt bàn tay – chứ chưa kể việc vớ lấy các vật nặng mà ném (thú giải trí của Blaine, vợ cũ của Rhyme) – người ta sẽ làm tiêu tan được các cơn thịnh nộ. “Nếu tôi tức giận tôi có thể bị chuột rút hoặc co cơ”, Rhyme nêu vấn đề một cách bực bội.

“Các điều đó sẽ không giết chết anh – như tình trạng tăng phản xạ tự phát.” Thom nói với sự vui vẻ đầy mưu lược, khiến Rhyme cáu tiết thêm.

Bell nhiệt tình bảo: “Cho tôi năm phút”. Anh ta biến mất và đám nhân viên tiếp tục đẩy các thiết bị vào. Thiết bị tách hợp chất chưa được cắm điện mất một lúc.

Lincoln Rhyme xem xét đống máy móc. Lòng tự hỏi sẽ như thế nào khi những ngón tay anh lại thực sự nắm lấy các vật. Anh có thể động chạm bằng ngón đeo nhẫn bên trái và mơ hồ cảm thấy sự động chạm. Nhưng thực sự nắm lấy cái gì đó, cảm nhận bề mặt của nó, trọng lượng, nhiệt độ… tất cả đều vượt quá sức tưởng tượng.

Terry Dobyns, bác sĩ trị liệu của Sở Cảnh sát New York người ngồi bên canh giường Rhyme khi anh tỉnh lại sau tai nạn xảy ra tại một hiện trường vụ án biến anh thành bệnh nhân liệt tứ chi, đã giải thích với nhà hình sự học tất cả các cung bậc mà thiên hạ vốn vẫn mô tả về nỗi đau khổ. Rhyme chắc chắn anh đã trải qua – và đã vượt qua – tất cả những cung bậc đó. Nhưng điều người bác sĩ không nói cho anh biết là có những cung bậc sẽ lén trở về. Rằng anh mang chúng trong mình như mang virus gây buồn ngủ vậy, và rằng chúng có thể bùng lên bất cứ lúc nào.

Vài năm vừa qua, Rhyme đã trải nghiệm lần nữa cảm giác tuyệt vọng và muốn phủ nhận thực tế.

Bây giờ, nỗi tức giận xâm chiếm anh. Sao, ở đây, hai cô gái trẻ bị bắt cóc và một kẻ sát nhân đang chạy trốn. Anh muốn biết chừng nào được ào ra hiện trường vụ án, đi ngang, đi dọc, nhặt từ dưới đất lên những chứng cứ khó xác định, chăm chăm quan sát chúng qua các lớp thấu kính đắt tiền của một kính hiển vi kép, đấm xuống bàn phím máy vi tính và các nút điều khiển trên các thiết bị khác, đi tới đi lui trong lúc rút ra kết luận.

Anh muốn được bắt đầu công việc mà không phải lo lắng rằng cái nóng kinh khủng này sẽ giết chết anh. Anh lại nghĩ tới đôi bàn tay kỳ diệu của Tiến sĩ Weaver, tới cuộc phẫu thuật.

“Anh im lặng”, Thom thận trọng nói. “Anh đang âm mưu gì đấy?”

“Tôi chẳng âm mưu gì cả. Xin cậu cắm cái máy tách hợp chất và bật nó lên hộ. Cần có thời gian làm nóng nó.”

Thom lưỡng lự rồi bước tới chỗ cái máy, khởi động nó. Anh đặt số thiết bị còn lại lên một chiếc bàn bằng gỗ ép công nghiệp.

Steve Farr bước vào văn phòng, lôi theo chiếc máy điều hòa nhiệt độ hiệu Carrier to tổ chảng. Viên cảnh sát rõ ràng vừa cao lớn vừa khỏe mạnh và dấu hiệu duy nhất cho thấy anh ta phải nỗ lực là màu đỏ trên đôi tai vểnh ra.

Anh ta hổn hển nói: “Đánh cắp nó từ bộ phận Quy hoạch và phân vùng. Chúng tôi vốn chẳng ưa bọn họ cho lắm.”

Bell giúp đỡ Farr gắn chiếc máy điều hòa lên khung cửa sổ và lát sau thì khí lạnh được xình xịch đưa vào căn phòng.

Một dáng người xuất hiện ở khuông cửa – thực tế anh ta choán kín khuông cửa. Một thanh niên khoảng hơn hai mươi tuổi. Vai ngang, trán dô. Cao sáu feet, nặng ngót nghét ba trăm pound. Trong một thoáng chốc gay go, Rhyme nghĩ đây có lẽ là bà con gì đó của Garrett đến để đe dọa họ. Nhung bằng chất giọng cao, rụt rè, anh ta nói: “Tôi, Ben đây ạ.”

Ba người đàn ông nhìn anh ta chằm chằm, còn anh ta thì băn khoăn liếc qua đôi chân và chiếc xe lăn của Rhyme.

Bell hỏi: “Anh cần gì?”

“Ồ, tôi tìm ông Bell.”

“Tôi là Cảnh sát trưởng Bell đây.”

Ánh mắt vẫn bối rối quan sát đôi chân Rhyme. Rồi anh ta nhanh chóng liếc qua chỗ khác, hắng giọng và nuốt nước bọt. “À, ờ, thì… Tôi là cháu dì Lucy Kerr ạ?” Anh ta dường như đặt câu hỏi hơn là đưa ra câu khẳng định.

“À, trợ lý khám nghiệm của tôi!”, Rhyme nói. “Tuyệt vời! Vừa kịp.”

Lại liếc nhìn đôi chân, chiếc xe lăn. “Dì Lucy không nói…”

Tiếp theo là gì đây? Rhyme tự hỏi.

“Không nói về việc khám nghiệm”, Ben lí nhí. “Tôi chỉ là sinh viên cao học tại Đại học Tổng hợp Bắc Carolina ở Avery. Ừm, thưa ông, ông muốn nói gì ạ, vừa kịp?” Câu hỏi Rhyme nhưng Ben lại nhìn viên cảnh sát trưởng.

“Tôi muốn nói: hãy đến chỗ chiếc bàn kia. Tôi sẽ có các mẫu được đưa tới bất cứ lúc nào và cậu phải giúp đỡ tôi phân tích chúng.”

“Các mẫu… Được rồi. Sẽ là loại cá nào ạ?”, Ben hỏi Bell.

“Cá à?”, Rhyme đáp lại. “Cá à?”

“Thưa ông, gì thế ạ?”, chàng thanh niên to lớn nói nhẹ nhàng, vẫn nhìn Bell. “Tôi hân hạnh được giúp đỡ ông, nhung tôi phải thú thực với ông rằng tôi có rất ít kinh nghiệm.”

Tác giả: