Cái ghế trống – Jeffery Deaver

Gã trai tìm thấy một lối mòn khác. Gã dẫn cô đi dọc theo đó cho tới lúc gặp một quả đồi dốc đứng. Những tảng đá xếp thành dãy từ chân đồi đến đỉnh đồi.

“Tôi không thể trèo được”, Lydia nói, cố gắng lấy giọng ngang ngạnh. “Không thể với hai bàn tay bị trói như thế này. Tôi sẽ ngã mất.”

“Vớ vẩn.” Gã trai lẩm bẩm, y như thể Lydia là một kẻ ngu ngốc. “Mày đã đi đôi giày y tá vào rồi còn gì. Chúng sẽ giữ cho mày bước vững. Nhìn tao đây. Tao, đi chân đất và tao có thể trèo tốt. Nhìn bản chân tao đây, nhìn đi!” Gã giơ bàn chân lên. Bàn chân gã đầy vết chai, vàng khè. “Nào, đi lên trên kia. Chỉ cần lên đến đỉnh đồi rồi thì mày dừng lại. Mày nghe thấy tao nói không? Này, mày đang lắng nghe đấy chứ?” Gã lại rít lên, một hạt nước bọt bắn vào má cô và dường như nó đốt cháy da cô tựa axit sunfuric.

Lạy Chúa, tao căm thù mày, Lydia nghĩ.

Lydia bắt đầu trèo. Cô dừng lại nửa chừng, ngoảnh nhìn đằng sau. Garrett đang vừa thận trọng quan sát cô vừa búng móng tay tanh tách. Dán mắt vào đôi chân đi bít tất dài màu trắng của cô, lưỡi gã thè ra qua đám răng cửa. Rồi ánh mắt gã đưa lên, soi phía dưới váy cô.

Lydia tiếp tục trèo. Cô nghe thấy hơi thở gã trai rít lên trong lúc gã bắt đầu trèo đằng sau cô.

Trên đỉnh đồi là khoảng đất trống và từ đó có một lối mòn duy nhất dẫn vào cánh rừng thông rậm rạp. Cô bước dọc theo lối mòn, về phía bóng mát.

“Này!”, Garrett hét to. “Lúc nãy mày không nghe thấy tao nói à? Tao đã bảo mày đừng có nhúc nhích!”

“Tôi có định bỏ trốn đâu!”, Lydia kêu lên. “Trời nóng. Tôi muốn tránh ánh nắng mặt trời.”

Gã trai đưa tay chỉ ra cách đấy chứng hai mươi feet. Có một lớp cành thông dày phủ giữa lối mòn. “Mày mà không dừng lại thì sa xuống đó rồi.” Giọng gã the thé. “Mày sẽ làm hỏng nó.”

Lydia thận trọng nhìn. Những chiếc là thông hình kim che một cái hố rộng.

“Bên dưới đó có gì?”

“Một cái bẫy sập.”

“Bên trong có gì?”

“Mày biết đấy – nó là sự bất ngờ dành cho đứa nào đuổi theo chúng ta.” Gã trai nói vẻ tự hào, mỉm nụ cười đầy ngạo mạn, y như gã đã phải rất thông minh mới nghĩ ra được cái bẫy.

“Nhưng bất cứ ai cũng có thể bị sa xuống!”

“Mẹ kiếp!”, gã trai lầm bầm. “Đây là phía bắc sông Paquo. Chỉ những đứa đuổi theo chúng ta mới đi đường này. Và bọn chúng xứng đáng lãnh lấy bất cứ điều gì xảy ra. Tiếp tục thôi.” Gã trai lại rít lên. Gã tóm cổ tay cô và dắt cô đi vòng tránh cái bẫy.

“Cậu không phải giữ tôi chặt như thế!”, Lydia phản đối.

Garrett liếc nhìn cô rồi nới lỏng tay hơn một chút – nhưng việc nới lỏng này lại hóa ra gây khó chịu nhiều hơn. Gã vuốt ve cổ tay cô bằng ngón giữa, khiến cô liên tưởng tới một con ve hút máu to tướng đang tìm kiếm chỗ để chích vào da thịt cô.

CHƯƠNG BỐN

Chiếc Grand Rollx chạy ngang qua nghĩa trang mang tên công viên Tưởng niệm Tanner’s Corner. Đang có một đám tang. Rhyme, Sachs và Thom liếc mắt sang cái nghi lễ u sầu nọ.

“Nhìn chiếc quan tài kìa”, Sachs nói.

Nó là một chiếc quan tài nhỏ, của trẻ em. Những người dự đám tang, đều là những người lớn, thì thưa thớt. Chừng hai mươi người. Rhyme băn khoăn tự hỏi tại sao lại ít người vậy. Ánh mắt anh lướt lên bên trên đám tang, quan sát những ngọn đồi nhấp nhô của nghĩa trang và qua những ngọn đồi đó, là hàng dặm rừng mờ sương, những đầm lầy biến vào màu xanh da trời phía xa. Anh bảo: “Đâu phải một nghĩa trang xấu xí. Mình không ngại nếu được chôn cất tại một nơi như thế này”.

Sachs, nãy giờ vẫn chằm chằm quan sát đám tang với vẻ lo lắng, đưa ánh mắt lạnh lùng sang Rhyme – rõ ràng vì cuộc phẫu thuật sắp tới, cô không thích nói bất cứ điều gì liên quan đến chuyện chết chóc.

Rồi Thom cho xe qua một khúc cua gấp và bám theo xe của Cảnh sát trưởng quận Paquenoke Jim Bell, tăng tốc đi vào một con đường thẳng tắp, cái nghĩa trang mất hút phía sau.

Như lúc trước Bell cam đoan, Tanner’s Comer cách trung tâm y khoa ở Avery hai mươi dặm. Tấm biển XIN CHÀO MỪNG cho khách đến thăm biết chắc chắn rằng thị trấn có số dân là 3.018 người. Điều này hẳn là sự thực, nhưng chỉ một tỷ lệ vô cũng nhó bé đang hiện diện trên phố Chính trong buổi sáng tháng Tám nóng nực này. Cái chốn bụi bặm ấy dường như là thị trấn của những hồn ma. Một đôi vợ chồng già ngồi trên ghế dài, nhìn ra con phố vắng ngắt. Rhyme để ý thấy hai gã đàn ông ắt là dân say xỉn cư ngụ tại đây – trông ốm yếu và gầy giơ xương. Một gã ngồi trên lề đường, cái đầu đầy vảy gục vào hai bàn tay, có lẽ đang cố gắng thoát khỏi hậu quả của bữa rượu. Gã kia ngồi dựa gốc cây, nhìn chằm chằm chiếc xe bóng loáng bằng cặp mắt trũng mà thậm chí từ xa cũng đã toát vẻ hằn học. Một người phụ nữ gầy nhẳng uể oải rửa khung cửa sổ của cửa hiệu dược phẩm. Rhyme chẳng còn nhìn thấy ai nữa.

“Thật thanh bình”, Thom nhận xét.

“Đấy chỉ là một cách mô tả”, Sachs nói, rõ ràng chia sẻ cảm giác bất an với Rhyme trước sự trống vắng của nơi đây.

Phố Chính là những tòa nhà cũ kỹ kéo dài mệt mỏi và hai dãy nhỏ hàng quán. Rhyme để ý thấy có một siêu thị, hai cửa hiệu dược phẩm, hai quán bar, một quán ăn, một cửa hiệu bán quần áo phụ nữ, một công ty bảo hiểm, một tổ hợp cửa hiệu bán hàng video, bán kẹo và làm móng. Một đại lý xe hơi A-OK nằm kẹp giữa một ngân hàng và một công ty kinh doanh các đồ nghề đi biển. Tất cả mọi người đều bán mồi câu. Một biển quảng cáo McDonald’s cách thị trấn bảy dặm dọc theo đường 17. Một biển quảng các khác đã bị phai màu vì ánh nắng, vẽ hai con tàu MonitorMerrimack thời Nội chiến. “Hãy đến thăm Bảo tàng Thiết giáp.” Bạn sẽ phải lái xe đi hai mươi hai dặm.

Trong lúc quan sát tất cả các chi tiết của cái đời sống nơi thị trấn nhỏ này, Rhyme sững sờ nhận ra ở đây, với tư cách một nhà hình sự học, anh mới thiếu chiều sâu hiểu biết làm sao. Anh có thể phân tích thành công những chứng cứ ở New York, bởi anh đã sống ở đó ngần ấy năm – đã chia cắt được thành phố ra nhiều phần, đã bước đi trên các con đường của nó, đã nghiên cứu lịch sử của nó, quần thể thực vật và động vật của nó. Nhưng ở đây, ở Tanner’s Conrner và những vùng ven, anh chẳng biết gì về thói quen của người dân, họ thích loại xe hơi nào, họ sống trong những kiểu nhà nào, những ngành nghề họ làm, những ham muốn thúc đẩy họ.

Rhyme nhớ lại hồi mới được tuyển dụng, làm việc với một thám tử cao cấp tại Sở Cảnh sát New York. Ông ta đã lên lớp cho đàn em của mình: “Có người hỏi tôi: thành ngữ “như cá trên cạn” có nghĩa là gì?”.

Chàng cảnh sát trẻ Rhyme trả lời: “Nghĩa là không ở trong môi trường quen thuộc của mình. Lúng túng”.

“Chà, đúng, điều gì xảy ra khi cá trên cạn?” Viên cảnh sát già tóc hoa râm quát vào mặt Rhyme. “Chúng không lúng túng. Chúng chết mất ngáp luôn. Nguy cơ duy nhất và lớn nhất đối với nhân viên điều tra là ở trong môi trường không quen thuộc. Hãy nhớ như vậy.”

Thom đỗ xe và thực hiện trình tự hạ xe lăn xuống. Rhyme thổi vào ống điều khiển chiếc Storm Arrow và lăn về phía đoạn đường dốc đứng dẫn lên trụ sở chính quyền quần, chắc chắn đoạn đường này đã được miễn cưỡng làm thêm sau khi luật Dân chúng Mỹ với Người Khuyết tật có hiệu lực.

Ba gã đàn ông – mặc quần áo lao động và đeo bao dao gấp ở thắt lưng – đẩy cánh cửa phụ của văn phòng cảnh sát trưởng ở bên cạnh đoạn đường dốc. Bọn họ bước về phía chiếc Chevy Suburban màu đỏ tía thẫm.

Gã gầy nhất hích vào mạng sườn gã to lớn nhất – một gã khổng lồ có đuôi tóc và râu quai nón – hất đầu chỉ Rhyme. Rồi ánh mắt bọn họ – gần như nhất loạt – lướt qua cơ thể Sachs. Cái gã to lớn quan sát mái tóc cắt gọn ghẽ, vóc dáng mảnh khảnh, trang phục không chê vào đâu được và chiếc khuyên tai bằng vàng của Thom. Gương mặt chẳng biểu lộ gì, gã thì thầm với gã thứ ba, một gã trông giống như một doanh nhân miền Nam bảo thủ. Gã này nhún vai. Bọn họ không chú ý tới các vị khách nữa và trèo vào chiếc Chevy.

Như cá trên cạn…

Bell, bước bên cạnh xe lăn của Rhyme, để ý ánh mắt anh đang nhìn chăm chú.

“Đó là Rich Culbeau, cái tay to lớn ấy. Và các chiến hữu của anh ta. Sean O’Sarian – cái tay gầy giơ xương – và Harris Tomel. Bản chất Culbeau không ghê gớm bằng một nửa vẻ bề ngoài đâu. Anh ta thích chơi với dân da trắng hạ lưu, nhưng thường thì anh ta chẳng gây phiền phức gì cả.”

Từ ghế hành khách, O’Sarian liếc nhìn về phía họ, dù là gã liếc nhìn Thom hay Sachs hay chính anh thì Rhyme cũng không biết được.

Viên cảnh sát trưởng bước vượt lên trước. Anh ta phải mở cánh cửa trên đỉnh đoạn đường dốc dành cho xe lăn, người ta đã đóng nó lại để sơn.

“Không có nhiều băng đảng đường phố ở đây”, Thom nhận xét. Rồi anh chàng hỏi Rhyme: “Anh cảm thấy thế nào?”.

“Tôi ổn.”

“Anh trông không ổn đâu, mặt mũi xanh xao lắm. Ngay sau khi vào bên trong, tôi sẽ đo huyết áp cho anh.”

Họ vào bên trong toà nhà… Nó được xây dựng vào khoảng năm 1950, Rhyme ước chừng. Sơn màu xanh lá cây quen thuộc, các dãy hành lang treo đầy những bức vẽ bằng ngón tay của một lớp tiểu học, những tấm ảnh chụp Tanner’s Corner từ xưa tới nay và nửa tá thông báo tuyển dụng người lao động.

“Chỗ này liệu có được không?” Bell hỏi, kéo một cánh cửa mở ra. “Chúng tôi vốn sử dụng nó để cất giữ chứng cứ, nhưng chúng tôi sẽ dọn dẹp hết xuống tầng hầm.”

Chừng chục cái hộp xếp dọc theo các bức tường. Một cảnh sát hì hục khuân chiếc ti vi Toshiba to tướng ra khỏi phòng. Một cảnh sát khác khuân hai hộp xếp những bình vốn đựng nước quả bây giờ đựng thứ chất lỏng gì đó trong suốt. Rhyme liếc nhìn họ. Bell cười to, nói: “Nó hoàn toàn có thể tóm tắt các loại tội phạm điển hình của Tanner’s Conrner: ăn trộm đồ điện tử ở nhà dân và nấu rượu lậu”.

Tác giả: