Cái ghế trống – Jeffery Deaver

Nhóm cảnh sát tập trung lại ở mặt sau không có cửa sổ của kho chứa. Lucy nghĩ cô chưa từng làm việc gì giống như thế này.

Đây đâu phải một cuộc ra quân của lực lượng đặc nhiệm…

Nhưng anh nhầm đấy, Jesse – đấy chính xác là sự việc đang diễn ra.

Lạy Chúa lòng lành, hãy cho con bắn một phát thật trúng đứa phản bội.

Một con chuồn chuồn béo múp đâm bổ vào Lucy. Cô lấy bàn tay trái gạt nó đi. Nó quay lại và lượn gần đó vẻ đe doạ, y như thể Garrett đã cử sinh vật này ra để làm cô sao lãng.

Suy nghĩ dớ dẩn, Lucy tự bảo mình. Rồi cô tức giận đập con côn trùng lần nữa.

Thằng Bọ…

Bay sẽ thua thôi, Lucy tự nhủ thầm – ý nghĩ này ám chỉ cả hai kẻ chạy trốn.

“Tôi sẽ không nói gì cả”, Mason nói. “Tôi cứ vào thôi. Lucy, khi cô nghe thấy tôi đá cánh cửa, cô sẽ vào qua cửa ngách nhé.”

Cô gật đầu. Và mặc dù băn khoăn vì thấy Mason quá háo hức, mặc dù tha thiết muốn tóm được Amelia Sachs, cô vẫn sẵn lòng chia sẻ một phần gánh nặng của cái nhiệm vụ khó khăn này.

“Để tôi kiểm tra cho chắc chắn, xem cửa ngách mở hay đóng”, Lucy thì thầm.

Họ tản ra, về vị trí. Lucy chúi xuống phía dưới một ô cửa sổ và vội vã tới chỗ cửa ngách. Nó không khoá và hé mở. Cô gật đầu lại và giơ mười ngón tay lên, ý là, cô đồ rằng, để đếm lùi mười giây cho tới lúc anh ta bước qua khung cửa, biến mất.

Mười, chín, tám…

Lucy quay về phía cửa, ngửi thấy mùi gỗ mốc meo pha lẫn hương thơm ngọt của xăng và dầu bay ra từ bên trong kho. Cô thận trọng lắng nghe. Cô nghe được tiếng rung ì ì – tiếng động cơ của chiếc xe Amelia đã đánh cắp.

Năm, bốn, ba…

Lucy thở sâu một hơi để trấn tĩnh. Một hơi nữa.

Sẵn sàng, cô tự nhủ.

Rồi một tiếng kêu đánh rầm hát ra từ phía trước kho chứa khi Mason đá cánh cửa nhảy vào bên trong. “Cảnh sát đây!”, anh ta hô to. “Không ai được động đậy!”

Nào! Lucy tự nhủ.

Cô đá cánh của ngách. Nhưng nó chỉ mở ra chừng nửa gang tay rồi dừng sựng lại – đập phải cái máy cắt cỏ lớn đỗ ngay đằng sau. Nó không mở thêm tí nào. Cô dùng vai huých hai lần mà nó chẳng nhúc nhích. “Mẹ kiếp”, Lucy thì thầm và chạy vòng sang phía trước kho chứa.

Cô chưa kịp chạy được nửa đường thì nghe thấy Mason kêu to: “Ôi, lạy Chúa”.

Và rồi Lucy nghe thấy một tiếng súng nổ.

Lát sau, lại một tiếng súng nữa.

* * *

“Chuyện gì đang diễn ra vậy?”, Rhyme hỏi.

“Được rồi”, Bell nói ngập ngừng, cầm trong tay chiếc điện thoại. Tư thế của anh ta có cái vẻ khiến Rhyme lo lắng: viên cảnh sát trưởng đứng áp chặt chiếc điện thoại vào tai, bàn tay kia vung ra nắm chặt. Anh ta nghe và gật đầu, rồi nhìn Rhyme. “Đã có súng nổ.”

“Súng nổ?”

“Mason và Lucy vào bên trong kho chứa. Jesse nói có hai tiếng súng nổ.” Bell ngẩng nhìn, hét sang căn phòng bên cạnh: “Điều xe cấp cứu tới khu vực nhà Hallburton, đường Badger Hollow, gần đường 112.”

Steve Farr đáp to: “Xe đang đi rồi”.

Rhyme lại đặt đầu vào cái tựa đầu của xe lăn. Liếc nhìn Thom, anh chàng không nói gì cả.

Ai bắn? Ai bị bắn?

Ôi, Sachs…

Bell nói giọng giận dữ: “Này, tìm hiểu xem, Jesse! Có ai làm sao không? Cái quái quỷ gì đang diễn ra vậy?”.

“Amelia có làm sao không?”, Rhyme quát lên.

“Một phút nữa chúng ta sẽ biết”, Bell đáp.

Nhưng có cảm giác như hàng ngày trời.

Cuối cùng Bell lại cứng cả người khi Jesse Corn hay ai đó nói trên điện thoại. Anh ta gật đầu. “Lạy Chúa, anh ta đã làm gì?” Lắng nghe một lúc lâu hơn. Rồi nhìn gương mặt lo lắng của Rhyme. “Không sao cả. Không ai bị thương. Mason đá cánh cửa nhảy vào kho chứa và trông thấy bộ áo liền quần treo trên tường. Anh ta tưởng đấy là Garrett đang cầm súng. Anh ta bắn hai phát. Vậy thôi.”

“Amelia không sao chứ?”

“Bọn họ thậm chí không có đó. Bên trong chỉ có chiếc xe tải mà bọn họ đánh cắp. Garrett và Amelia ắt hẳn ở bên trong ngôi nhà, nhưng bọn họ có lẽ đã nghe thấy tiếng súng nổ và chuồn ra rừng. Bọn họ chưa thể đi quá xa được. Tôi biết cái cơ ngơi ấy – xung quanh toàn là các bãi lầy.”

Rhyme tức tối nói: “Tôi muốn Mason đứng bên ngoài vụ này. Đấy không phải là sự nhầm lẫn – anh ta đã cố ý bắn. Tôi đã bảo anh rằng anh ta quá bốc đồng.”

Bell hiển nhiên đồng ý với Rhyme. Anh ta nói vào điện thoại: “Jesse, đưa máy cho Mason…”. Anh ta im lặng một lát. “Mason, toàn bộ chuyện này là cái quái quỷ gì vậy?… Tại sao anh cứ nổ súng?… Ờ, nếu là Pete Hallburton đang đứng đó thì sao? Hoặc là vợ anh ta hoặc một đứa trong số lũ trẻ?… Tôi không quan tâm. Anh hãy quay lại đây ngay bây giờ. Đấy là mệnh lệnh… Chà, để họ khám xét ngôi nhà. Hãy vào xe của anh và quay lại… Tôi không nói với anh lần nữa đâu. Tôi…”

“Mẹ kiếp”, Bell cúp máy. Một lát sau, chuông điện thoại lại vang lên. “Lucy, chuyện gì vậy?…” Viên cảnh sát trưởng lắng nghe, cau mày, mắt cắm xuống sàn. Anh ta đi tới đi lui. “Ôi, lạy Chúa… Cô chắc chắn không?” Anh ta gật đầu rồi bảo: “Được, ở đó nhé. Tôi sẽ gọi lại cho cô”. Anh ta cúp máy.

“Đã xảy ra chuyện gì vậy?”

Bell lắc đầu. “Tôi không tin. Chúng tôi đã bị bịp. Cô ta đã gạt chúng tôi một cách quá thể, cô bạn anh ấy.”

“Cái gì?”

Bell nói: “Pete Hallburton ở đó. Anh ta có nhà – có mặt tại ngôi nhà của anh ta. Lucy và Jesse vừa nói chuyện với anh ta. Vợ anh ta làm ca từ ba giờ chiều tới mười một giờ đêm trong công ty Davett và cô ta để quên suất ăn tối ở nhà, thế nên cách đây nửa tiếng đồng hồ anh ta đã mang suất ăn đến cho vợ rồi lái xe trở về”.

Anh ta lái xe trở về? Amelia và Garrett nấp trong cốp xe à?”

Bell thở dài chán chường. “Anh ta đi chiếc xe tải cỡ nhỏ. Không có chỗ nào mà nấp cả. Dù sao thì cũng không có chỗ nào cho bọn họ. Nhưng có vô khối chỗ cho điện thoại di động của cô ta. Đằng sau cái thùng làm lạnh được đặt ở đuôi xe ấy.”

Rhyme lúc này cũng phải bật tiếng cười hoài nghi. “Cô ấy đã gọi tới công ty cho thuê xe, vẫn để kết nối và giấu điện thoại trên chiếc xe tải.”

“Anh suy luận đúng đấy”, Bell lầm bầm.

Thom nói: “Anh nhớ lại đi, sáng nay cô ấy đã gọi tới cái chỗ cho thuê xe ấy. Cô ấy điên tiết vì phải chớ máy lâu quá.”

“Cô ta biết là chúng tôi sẽ sử dụng thiết bị định vị đối với chiếc điện thoại. Bọn họ đã chờ cho Lucy và các xe tuần tra rời khỏi Kênh Đào, rồi tiếp tục cái hành trình chết tiệt đầy hoan hỉ của bọn họ.” Bell nhìn tấm bản đồ. “Bọn họ khiến chúng tôi tiêu tốn bốn mươi lăm phút. Bây giờ thì bọn họ đã có thể tới bất cứ chỗ nào rồi.”

CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY

Sau khi các anh cảnh sát rời khỏi khu vực rào chắn và mất hút về phía tây xuôi theo đường 112, Garrett và Sachs chạy đến cuối đường Kênh Đào, băng ngang qua quốc lộ.

Họ đi men xung quanh hai hiện trường vụ án ở Bến tàu kênh Nước đen, sau đó rẽ trái, vội vã đi xuyên các bụi rậm và một cánh rừng sồi, bám theo sông Paquenoke.

Đi sâu vào rừng nửa dặm, họ gặp phụ lưu sông Paquo. Không thể đi vòng qua được, mà Sachs thì không thích thú gì việc bơi dưới dòng nước tối thẫm, điểm những con côn trùng và rác rến.

Nhưng Garrett đã có sự thu xếp khác. Gã giơ đôi bàn tay bị còng chỉ một chỗ trên bờ. “Con thuyền.”

“Thuyền à? Đâu?”

“Kia, kia.” Garrett lại chỉ.

Sachs nheo mắt nhìn, cố gắng lắm mới thấy hình dáng một con thuyền nhỏ. Nó được ngụy trang bằng các bụi rậm và lá cây. Gã bước tới, xoay sở hết mức với đôi bàn tay bị còng, bắt đầu gỡ các thứ che giấu con thuyền ra. Sachs giúp đỡ gã.

“Lớp ngụy trang”, Garrett tự hào nói. “Tôi học từ lũ sâu bọ. Có một giống châu chấu nhỏ ở Pháp – gọi là truxalis. Giống này cực kỳ hay – mỗi mùa hè chúng thay đổi màu ba lần cho phù hợp với các màu xanh của cỏ. Bọn săn mồi hầu như không trông thấy chúng được.”

Chà, Sachs cũng sử dụng đến thứ kiến thức bí truyền về côn trùng của gã trai. Khi Garrett nhận xét về những con bướm đêm – về khả năng cảm nhận các tín hiệu điện tử và radio của chúng – cô nhận ra rằng Rhyme tất nhiên đã sử dụng thiết bị định vị đối với chiếc điện thoại di động của cô. Cô nhớ lại lúc sáng gọi tới công ty cho thuê xe Piedmont – Carolia cô phải chờ máy rất lâu. Thế nên cô liền lẻn vào bãi đỗ xe của Công ty Davett, gọi tới cái công ty cho thuê xe kia và luồn chiếc điện thoại, đang đổ đoạn nhạc lê thê của Muzak, vào phía sau chiếc xe tải cỡ nhỏ không người lái, vẫn để nổ máy, đỗ đằng trước lối vào dành cho nhân viên.

Mánh khoé đó rõ ràng đã có tác dụng. Tốp cảnh sát xuất phát đuổi theo chiếc xe tải khi nó rời khỏi khu vực nhà máy.

Trong lúc gỡ lớp ngụy trang, Sachs hỏi: “Chất amomnia? Và cái hố bỏ tổ ong bắp cày? Cậu cũng học từ lũ côn trùng hả?”.

“Vâng”, Garrett nói.

“Cậu không định làm hại ai cả, phải không?”

“Không, không, cái hố bắt chước loài kiến sư tử chỉ để doạ các người thôi, để các người đi chậm lại. Vì thế tôi đã bỏ một chiếc tổ không vào. Chai ammonia là để cảnh báo sớm đối với chúng.” Cặp mắt đỏ quạch, ướt nhoèn của Garrett lấp lánh ánh ngưỡng mộ lạ lùng. “Thật thú vị, việc cô đã làm ấy, tìm thấy tôi tại cối xay. Tôi, nói chung, không bao giờ nghĩ cô lại đến đó nhanh vậy.”

“Và cậu bố trí những chứng cứ giả trong cối xay – tấm bản đồ và chỗ cát – để chúng tôi bị lạc hướng.”

“Vâng, tôi đã bảo cô – côn trùng khôn khéo lắm. Chúng bắt buộc phải khôn khéo.”

Họ gỡ xong lớp ngụy trang của con thuyền trông xạc xài. Nó được sơn màu xám sẫm, dài chừng mười feet và có một động cơ nhỏ gắn bên ngoài thân. Trong lòng thuyền là chục chai nhựa dung tích một ga lông đựng nước suối và một hộp giữ lạnh. Sachs mở một chai nước, uống luôn mươi ngụm đầy. Cô đưa cái chai cho Garrett và gã cũng uống. Rồi gã mở hộp giữ lạnh. Bên trong là các gói bích quy và khoai tây chiên. Gã xem xét chúng kỹ lưỡng để chắc chắn rằng chúng vẫn còn đầy đủ và không bị hư hỏng. Gã gật đầu, rồi trèo vào trong thuyền.

Tác giả: